Sinh kế bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu đối với vùng ven biển Việt Nam 1

GS.TS. TRẦN THỌ ĐẠT
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Sự gia tăng các rủi ro từ biến đổi khí hậu đang là một trong những áp lực làm tăng khả năng bị tổn thương của những sinh kế dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại các cộng đồng ven biển. Do vậy, xây dựng các sinh kế bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu cho vùng ven biển là một nhu cấp cấp bách hiện nay trong bối cảnh khí hậu ngày càng biến đổi bất thường và đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng lên sinh kế của người dân ven biển. Bài viết này phân tích một số nội dung về khung sinh kế bền vững với biến đổi khí hậu, khả năng bị tổn thương và năng lực thích ứng của sinh kế ven biển trước tác động của biến đổi khí hậu và một số vấn đề thực tiễn về biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển ở Việt Nam.

1. Biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển ở Việt Nam

1.1. Thực trạng biến đổi khí hâu ở vùng ven biển Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới phải gánh chịu các tác động tiêu cực nhất từ biến đổi khí hậu và không nơi nào ở Việt Nam bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn vùng ven biển. Cũng như những vùng biển khác trên thế giới, ngay cả khi không phải đối mặt với biến đổi khí hậu, vùng ven biển Việt Nam đã phải đối mặt với nhiều áp lực hiện tại liên quan đến sự phát triển kinh tế – xã hội và những thách thức về quản lý bền vững vùng ven biển. Biến đổi khí hậu được dự đoán sẽ làm gia tăng các áp lực lên vùng ven biển Việt Nam trong thời gian tới.

Nước biển dâng

Việt Nam có đường bờ biển dài 3.260 km, hơn 1 triệu km2 lãnh hải, trên 3.000 hòn đảo và nhiều vùng đất thấp ven biển. Những vùng đất thấp này hàng năm thường phải chịu tình trạng ngập lụt nặng nề trong mùa mưa và tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn trong mùa khô. Trong 50 năm qua (1958-2007), mực nước biển ở Việt Nam đã dâng thêm 20 cm. Dự đoán rằng, đến cuối thế kỷ 21, tính trung bình trên toàn lãnh thổ Việt Nam, mực nước biển có thể dâng 78-95 cm. Sự gia tăng mực nước biển được đánh giá là ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đối với vùng ven biển vì nó sẽ làm tăng diện tích ngập lụt, gây khó khăn cho thoát nước, tăng xói mòn bờ biển và nhiễm mặn nguồn nước, cũng như gây rủi ro lớn cho các công trình xây dựng ven biển như đê biển, đường giao thông, bến cảng, nhà máy, các đô thị và khu dân cư ven biển. Nghiên cứu gần đây của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012) cho rằng nếu nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập; gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, trên 9% dân số vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, gần 9% dân số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số Thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng trực tiếp; và trên 4% hệ thống đường sắt, trên 9% hệ thống quốc lộ và khoảng 12% hệ thống tỉnh lộ của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng.

Tình trạng xâm nhập mặn

Tinh trạng xâm nhập mặn vốn là một hiện tượng phổ biến ở các vùng vùng đồng bằng thấp ven biển và thường gây mặn hóa các vùng đất canh tác và mặn hóa nguồn nước. Sự gia tăng của mực nước biển được dự đoán sẽ làm trầm trọng hơn tình trạng xâm nhập mặn ở vùng ven biển, từ đó thúc đẩy quá trình thoái hóa đất và ảnh hưởng đến hoạt động nông nghiệp của những vùng đồng bằng ven biển. Các khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi tình trạng ngập mặn ở Việt Nam là vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng. Bên cạnh những ảnh hưởng đến đất đai, nước mặn lấn sâu vào nội địa vừa làm giảm địa bàn sinh sống của một số loài thủy sản nước ngọt, vừa làm giảm đáng kể nguồn nước sinh hoạt của cư dân cũng như nguồn nước tưới cho cây trồng.

Các hiện tượng thời tiết cực đoan

Các nghiên cứu gần đây đều cho thấy các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng được cảm nhận một cách rõ rệt ở Việt Nam. Trước đây, các hiện tượng như bão, lũ lụt, hạn hán, mưa lớn, nắng nóng, lốc xoáy vốn là những thiên tai xảy ra hàng năm ở nhiều vùng trên cả nước. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, thời tiết sẽ trở nên nóng hơn, hạn hán khắc nghiệt hơn, mưa rét kéo dài hơn, lượng mưa ít đi nhưng cường độ mưa lớn và bất thường hơn, và bão xảy ra nhiều hơn. Đối với vùng ven biển Việt Nam, các hiện tượng thời tiết cực đoan thường xuyên xảy ra là: hạn hán, bão, gió lốc, lũ quét và mưa lớn. Ví dụ, vùng ven biển thường phải gánh chịu các cơn bão nhiệt đới xuất phát từ biển Đông với mức trung bình khoảng 7 cơn bão/năm. Vùng ven biển miền Trung thường là khu vực chịu những ảnh hưởng lớn nhất của hiện tượng thời tiết cực đoan ở Việt Nam như thời tiết khô và nắng kéo dài (từ tháng 3 đến tháng 8, trong đó nhiệt độ có thể lên đến 41oC); hạn hán nghiêm trọng; bão diễn ra sớm hơn và thường xuyên hơn; rét đậm rét hại kéo dài; lũ quét và mưa lớn thường xuyên gây lụt lội. Sự gia tăng các hiện tượng khí hậu cực đoan, cả về tần suất và cường độ do biến đổi khí hậu, là mối đe dọa thường xuyên, trước mắt và lâu dài đối với tất cả các lĩnh vực, các vùng và các cộng đồng ở Việt Nam, trong đó vùng ven biển là khu vực bị tổn thương nhiều nhất.

1.2. Khả năng bị tổn thương của sinh kế ven biển trước tác động của biến đổi khí hâu ở Việt Nam

Vùng ven biển Việt Nam đang ngày càng bị đe dọa trước sự gia tăng của mực nước biển, bão, lũ lụt và hạn hán. Các sinh kế chính sẽ chịu những ảnh hưởng trực tiếp nhất là thủy sản (đặc biệt là nuôi trồng), nông nghiệp, du lịch và vận tải biển. Khoảng 58% sinh kế ven biển Việt Nam đều dựa vào nông nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản – là những sinh kế phụ thuộc nhiều vào khí hậu và nguồn nước. Hầu hết thiên tai gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống ở Việt Nam đều liên quan đến sự thay đổi của khí hậu và nguồn nước. Mặc dù biến đổi khí hậu sẽ tác động đến tất cả các lĩnh vực và mọi đối tượng ở Việt Nam, nhưng chính người nghèo ở nông thôn sẽ phải đối mặt và thích ứng với biến đổi khí hậu ngay lập tức và trực tiếp nhất trong bối cảnh thay đổi về kinh tế, xã hội và thể chế ở Việt Nam. Họ chủ yếu dựa vào nông nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản để tìm kiếm thu nhập và bảo đảm an ninh lương thực và thường xuyên gặp tổn thương trước các thảm họa liên quan đến thời tiết như hạn hán, lũ lụt hoặc bão. Điều này sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống của các cộng đồng ven biển nghèo phụ thuộc nhiều vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên thủy sản để thực hiện các chiến lược sinh kế.

Khả năng bị tổn thương của sinh kế nông nghiệp

Hoạt động nông nghiệp, chủ yếu là trồng trọt, luôn gắn liền với việc sử dụng đất, do đó là sinh kế bị tổn thương nhiều nhất trước tác động của biến đổi khí hậu, được thể hiện trên các khía cạnh chu yếu sau:

Thứ nhất, tình trạng ngập lụt làm mất đất canh tác.

Ngập lụt sẽ làm mất đất canh tác ở hai khu vực nông nghiệp quan trọng nhất của Việt Nam là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng vì khoảng 30% diện tích đồng bằng sông Hồng và 80% diện tích đồng bằng sông Cửu Long có độ cao dưới 2,5 m so với mực nước biển. Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi ngập lụt vì thời gian ngập úng ở khu vực này thường kéo dài từ 4 đến 5 tháng trong những năm có lũ lớn và làm cho khoảng 40% diện tích đồng bằng bị nhấn chìm nếu mực nước biển dâng thêm 1m vào cuối thế kỷ 21. Nhiều địa phương ở vùng đồng bằng này sẽ bị chìm trong nước, đặc biệt là Bến Tre, Long An, Trà Vinh, Sóc Trăng, Vĩnh Long,… Đối với vùng đồng bằng sông Hồng, mực nước biển dâng 1m sẽ gây ngập lụt từ 0,3-0,5 triệu ha trong tổng số 1,3 triệu ha của vùng (tức bị ngập từ 23% đến 38% diện tích của vùng). Tính trên phạm vi cả nước, Việt Nam sẽ bị mất đi khoảng hơn 2 triệu ha đất trồng lúa trong khoảng 4 triệu ha đất trồng lúa hiện nay nếu mực nước biển dâng thêm 1m. Mất đất canh tác trong nông nghiệp sẽ đặt ra những thách thức và đe dọa đối với đời sống của nông dân cũng như vấn đề xuất khẩu gạo và đe dọa đến an ninh lương thực quốc gia.

Thứ hai, tình trạng xâm nhập mặn làm thu hẹp diện tích đất nông nghiệp.

Sự xâm nhập mặn do mực nước biển dâng khiến cho nhiều vùng đất không còn khả năng canh tác. Do ảnh hưởng của nước biển nên đất ven biển thường là đất cát hoặc đất pha cát, bị nhiễm mặn, đặc biệt là khi bị tác động mạnh bởi nước biển xâm nhập vào những thời gian có bão. Bên cạnh đó, nguồn nước ngọt cho vấn đề tưới tiêu ở các vùng này cũng rất hạn chế. Vì vậy, hoạt động trồng trọt ven biển thường có năng suất thấp. Tinh trạng xâm nhập mặn cũng làm cho người dân phải mất nhiều chi phí hơn trong việc khắc phục, đặc biệt là chi phí rửa đầm và các chi phí cải tạo đất, ví dụ như phân bón. Sự gia tăng mực nước biển sẽ làm xấu thêm tình trạng xâm nhập mặn ở các vùng ven biển. Một phần diện tích đáng kể đất trồng trọt ở vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị nhiễm mặn vì 2 đồng bằng này đều là những vùng đất thấp so với mực nước biển. Xâm nhập mặn làm cho diện tích đất canh tác giảm, từ đó hệ số sử dụng đất có thể giảm từ 3-4 lần/năm xuống còn 1-1,5 lần/năm. Ngập mặn sẽ đặc biệt nghiêm trọng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nếu nước biển dâng cao thêm 1m thì khoảng 1,77 triệu ha sẽ bị nhiễm mặn, chiếm 45% diện tích đất ở đồng bằng sông Cửu Long và ước tính rằng, có khoảng 85% người dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long cần được hỗ trợ về nông nghiệp.

Thứ ba, nhiệt độ tăng sẽ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, năng suất, thời vụ gieo trồng

Bên cạnh ngập úng, lũ lụt, xâm nhập mặn, hạn hán và bão, sản xuất nông nghiệp cũng sẽ chịu ảnh hưởng của nhiệt độ bình quân tối thiểu tăng lên. Số ngày có nhiệt độ dưới 20oC sẽ giảm xuống (từ 0-50 ngày vào năm 2070) và số ngày có nhiệt độ trên 25oC tăng lên (0-80 ngày vào năm 2070). Điều này sẽ ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng, lịch gieo cấy, sự phân bố cây trồng, tình trạng cây trồng nhiệt đới di chuyển lên vùng phía bắc 100-200 km và đến những vùng có độ cao 100-500 m so với mực nước biển để thay thế những cây trồng ôn đới, bán nhiệt đới. Một số loài cây trồng sẽ bị tuyệt chủng do thời tiết thay đổi. Năng suất lúa xuân ở vùng đồng bằng sông Hồng có thể giảm 3,7% vào năm 2020 và giảm tới 16,5% vào năm 2070; năng suất lúa mùa sẽ giảm 1% vào năm 2020 và giảm 5% vào năm 2070 nếu không có các biện pháp ứng phó kịp thời và hiệu quả.

Khả năng bị tổn thương của sinh kế thủy sản

Các sinh kế thủy sản, bao gồm đánh bắt và nuôi trồng, là những sinh kế phụ thuộc vào nguồn nước và sự phong phú của nguồn lợi ven biển, nên là một trong những lĩnh vực nhạy cảm nhất và dễ bị tổn thương nhất trước tác động của biến đổi khí hậu do sự thay đổi của môi trường sống và các hệ sinh thái quan trọng vùng ven biển như rừng ngập mặn và san hô. Mặc dù chưa có những đánh giá cụ thể về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với hoạt động đánh bắt và nuôi trồng ở Việt Nam nói chung và vùng ven biển nói riêng, nhưng có thể thấy một số ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với sinh kế thủy sản trên 2 khía cạnh sau:

Thứ nhất, đối với hoạt động đánh bắt, mực nước biển dâng dọc bờ biển làm cho chế độ thủy lý, thủy hóa và thủy sinh xấu đi, dẫn đến sự thay đổi của quần xã sinh vật về cấu trúc và thành phần. Nhiệt độ tăng làm cho nguồn lợi thủy hải sản bị phân tán, cụ thể là các loài cá nhiệt đới kém giá trị kinh tế tăng lên, các loài cá cận nhiệt đới có giá trị kinh tế cao bị giảm đi hoặc mất hẳn và cá ở các rạn san hô đa phần bị tiêu diệt. Nhìn chung, biến đổi khí hậu có xu hướng làm thay đổi môi trường sống của các loài thuỷ sản, dẫn đến sự thay đổi trữ lượng các loài thuỷ hải sản do di cư hoặc do chất lượng môi trường sống bị suy giảm; từ đó làm thu hẹp ngư trường đánh bắt và sản lượng đánh bắt. Ở các xã ven biển ở Việt Nam, đa số các hộ ngư dân có nghề cá qui mô nhỏ ven bờ với các loại ngư lưới cụ khai thác truyền thống, sẽ bị ảnh hưởng rất lớn bởi sự suy giảm nguồn lợi thủy sản.

Thứ hai, đối với hoạt động nuôi trồng, sự thay đổi môi trường sống của các loài thủy sản, bị mặn hóa do xâm nhập mặn hoặc ngọt hóa do lũ lụt, đều làm chậm quá trình sinh trưởng của các loài thủy sản. Ngoài ra, nhiệt độ nước biển tăng cũng làm ảnh hưởng đến các hệ sinh thái biển và ven biển, đặc biệt là các rạn san hô và rừng ngập mặn, ảnh hưởng xấu đến nền tảng đa dạng sinh học cho các hoạt động nuôi trồng thủy sản ven biển. Triều cường thay đổi đột ngột và gây lụt lội ở những vùng đất trũng ven biển cũng ảnh hưởng đến hoạt động nuôi trồng thủy sản ở những đầm nuôi thấp hơn mực nước biển.

Có thể thấy rằng, biến đổi khí hậu đang gây ảnh hưởng nặng nề đến đại bộ phận dân nghèo ở Việt Nam, đặc biệt là những người phải sống trong những môi trường khắc nghiệt và mạng lưới an sinh xã hội không hiệu quả khiến họ rất dễ bị tổn thương trước những rủi ro của khí hậu và thiên tai thường xuyên xảy ra. Trong khi biến đổi khí hậu có những rủi ro tiềm ẩn đối với người nghèo và những người dễ bị tổn thương trên cả nước thì những người nghèo ở khu vực ven biển là một trong những nhóm đối tượng nhạy cảm nhất với sự biến đổi bất thường của khí hậu vì sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản là những ngành đặc biệt dễ bị tổn thương trước những tác động của biến đổi khí hậu. Do đó, tình trạng khó khăn vốn đã tồn tại trong các cộng đồng ven biển có thể trở nên nghiêm trọng hơn trong một thời gian dài. Tác động của biến đổi khí hậu lên các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ gây ảnh hưởng đến tính khả thi của các sinh kế trừ khi các biện pháp thích ứng hiệu quả được thực hiện để bảo vệ và cải thiện các sinh kế hiện tại. Những biện pháp thích ứng về sinh kế có thể giúp giảm thiệt hại cho cộng đồng địa phương, đồng thời góp phần tăng cường năng lực thích ứng trong dài hạn để làm giảm những tổn thương về sinh kế trong tương lai.

1.3. Các hoạt động thích ứng về sinh kế trước tác động của biến đổi khí hậu ở vùng ven biển Việt Nam

Thích ứng với biến đổi khí hậu là một quá trình diễn ra liên tục và từ lâu ở các cộng đồng ven biển Việt Nam bị ảnh hưởng bởi những rủi ro từ khí hậu. Cả phụ nữ và nam giới đang thường xuyên điều chỉnh các hoạt động sinh kế của mình theo sự thay đổi của khí hậu phụ thuộc vào nhu cầu và năng lực của họ, đặc biệt là khả năng tiếp cận các nguồn lực sinh kế.

Các hoạt động thích ứng trong nông nghiệp

Người dân ven biển đang điều chỉnh các hoạt động trồng trọt để ứng phó với tình trạng ngập lụt làm mất đất canh tác, tình trạng xâm nhập mặn, và các hiện tượng thời tiết cực đoan.

Thứ nhất, đối với tình trạng nước biển dâng gây ngập lụt:

Ngập lụt do nước biển ngày càng có xu hướng dâng cao đang làm giảm dần diện tích đất canh tác ở các vùng ven biển. Trong bối cảnh quỹ đất ngày càng hạn chế, dân số ngày càng gia tăng nên diện tích đất tính trên một hộ gia đình bị giảm dần. Điều này đã và đang thúc đẩy những hộ gia đình thực hiện các biện pháp sau:

  • Đầu tư những giống mới có năng suất cao để tăng năng suất trên những vùng đất hạn chế đó.
  • Thâm canh trên diện tích đất hiện có bằng cách đầu tư thêm lao động, phân bón, máy móc, thuốc trừ sâu trên một đơn vị diện tích canh tác để tăng sản lượng.

Thứ hai, đối với tình trạng xâm nhập mặn:

Tình trạng xâm nhập mặn do nước biển dâng làm cho một số cánh đồng không thể cày cấy được. Một số biện pháp đã được các hộ gia đình thực hiện là:

  • Làm giảm độ mặn bằng cách rửa mặn cho đất (đổ nước ngọt vào ruộng để rửa mặn),
  • Những vùng đất nhiễm mặn được chuyển sang nuôi trồng thủy sản (ví dụ nuôi tôm),
  • Trồng những giống cây chịu được mặn (ví dụ như giống lúa ngắn ngày hoặc hoa màu),
  • Tăng cường nạo vét kênh mương để tháo nước mặn ra khỏi ruộng đồng.

Thứ ba, đối với những hiện tượng thời tiết cực đoan:

Nắng nóng, khô hạn, thiếu nước, mưa bão,… ngày càng diễn ra thường xuyên và khó dự đoán hơn. Trước tình hình này, các hộ gia đình đã thực hiện một số biện pháp sau:

  • Lên lịch thời vụ: tính toán cẩn thận thời gian gieo trồng và thu hoạch (ví dụ thu hoạch trước mùa lũ, mưa bão),
  • Xây dựng cơ cấu cây trồng phù hợp với các điều kiện khắc nghiệt của thời tiết theo hướng đa dạng hóa cây trồng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ độc canh sang xen canh và luân canh,
  • Thực hiện các kỹ thuật canh tác phù hợp với biến đổi khí hậu, ví dụ như sử dụng các giống lúa ngắn ngày để giảm thiểu các tác động của hạn hán, lũ lụt hoặc gió lốc,
  • Sử dụng các giống chịu được các điều kiện ngoại cảnh khắc nghiệt (ví dụ như giống lúa chịu hạn hoặc các cây màu không cần nhiều nước như lạc và khoai lang),
  • Tăng cường hệ thống tưới tiêu cho nông nghiệp để thích ứng với hạn hán thông qua cải thiện hệ thống tưới tiêu và sử dụng nước tưới hiệu quả.

Các hoạt động thích ứng trong đánh bắt và nuôi trồng thủy sản

Về cơ bản, hoạt động đánh bắt phụ thuộc rất lớn vào sự phong phú của tài nguyên thủy sản và hoạt động nuôi trồng thủy sản phụ thuộc nhiều vào nguồn nước. Biến đổi khí hậu, bao gồm những ảnh hưởng chính như nước biển dâng, xâm nhập mặn, các hiện tượng thời tiết cực đoan, đều làm cho trữ lượng nguồn lợi thủy sản và nguồn nước phục vụ nuôi trồng thủy sản thay đổi, từ đó người dân cũng có những điều chỉnh nhất định về các hoạt động đánh bắt và nuôi trồng khi các điều kiện tự nhiên thay đổi.

Thứ nhất, đối với hoạt động đánh bắt:

  • Hoạt động đánh bắt phụ thuộc rất lớn vào điều kiện của thời tiết và khí hậu. Chính vì vậy, người dân thường lên lịch thời vụ cho các hoạt động đánh bắt trong năm và tránh đánh bắt trong mùa mưa bão.
  • Tài nguyên thủy sản suy giảm làm cho sản lượng đánh bắt suy giảm theo là một vấn đề được người dân đặc biệt quan tâm. Hoạt động đánh bắt suy giảm tạo ra áp lực cho các hộ ngư dân về lâu dài khi nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt. Nhiều hộ gia đình đã đầu tư vào việc học hành để thế hệ tiếp theo có cơ hội tìm kiếm các sinh kế khác thay thế sinh kế truyền thống.

Thứ hai, đối với hoạt động nuôi trồng:

  • Nước biển dâng làm gia tăng độ mặn trong nước, làm cho môi trường sống của các loài thủy sản bị mặn hóa, dẫn đến một số loài thủy sản bị chết. Một số hộ gia đình đã pha loãng nồng độ muối trong nước nuôi trồng từ hệ thống tưới tiêu của địa phương để giảm nồng độ muối.
  • Triều cường làm cho mực nước trong các đầm nuôi trồng thủy sản thường thấp hơn mực nước ngoài biển nên không thể xả nước trong đầm ra được. Chính vì vậy, các hộ nuôi trồng phải đắp đê cao hơn, xây thành cống thoát nước cao hơn cũng như xây thêm cả cống thoát nước.
  • Các hiện tượng thời tiết cực đoan (nắng nóng kéo dài, rét hại, lũ lụt, ..) làm cho năng suất nuôi trồng giảm sút. Các hộ gia đình thích ứng bằng cách thay đổi giống loài thủy sản được nuôi, thay đổi các kỹ thuật nuôi trồng cũng như đa dạng hóa các giống loài thủy sản.
  • Dừng hẳn việc nuôi trồng hoặc giảm qui mô nuôi trồng để tránh tổn thất cũng là những cách thức ứng phó của các hộ nuôi trồng thủy sản trước những biến động bất thường của thời tiết, đặc biệt là những hình thức nuôi trồng đòi hỏi vốn đầu tư lớn và kỹ thuật cao như nuôi tôm và nuôi ngao.

Di cư như một biện pháp thích ứng

Di cư được coi là một biện pháp thích ứng dễ dàng, đơn giản và hiệu quả nhất trước những khó khăn về kinh tế tại địa phương nói chung và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nói riêng. Lợi ích chính của việc di cư là giảm được gánh nặng về chi phí cuộc sống tại địa phương, và mang lại thu nhập đóng góp cho gia đình. Các nghiên cứu về di cư gần đây cho thấy, trong giai đoạn 2004-2009, nhóm 10 tỉnh có tỷ lệ xuất cư dẫn đầu cả nước là những tỉnh nông nghiệp như: Bến Tre (78,3%), Hà Tĩnh (76%), Thái Bình (64,8%), Nam Định (64,5%), …. Đây cũng là những tỉnh đang chịu những ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Một điều dễ nhận thấy là Bến Tre được đánh giá là tỉnh bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu ở Việt Nam thì cũng là tỉnh có tỷ lệ xuất cư cao nhất cả nước trong 5 năm gần đây.

1.4. Một số đánh giá về các hoạt động thích ứng về sinh kế trước tác động của biến đổi khí hâu ở vùng ven biển Việt Nam

Để thực hiện các hoạt động sinh kế trong bối cảnh gia tăng về cường độ và tần suất của thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra, người dân ven biển đã liên tục tự điều chỉnh các hoạt động sinh kế của mình để phù hợp với điều kiện và nguồn lực tại địa phương. Trên thực tế, người dân đang thực hiện các biện pháp thích ứng trong khả năng của họ trên các sinh kế hiện tại nhằm khắc phục những thiệt hại có thể xảy ra trước những tác động của biến đổi khí hậu.

Trước hết, các biện pháp thích ứng chủ yếu được người dân đúc kết từ các kinh nghiệm hiện có và điều này đã góp phần tích cực trong việc giảm khả năng bị tổn thương về sinh kế. Ví dụ, người dân có thể tính toán cẩn thận về lịch thời vụ của các hoạt động sinh kế trong năm để giảm thiểu khả năng bị tổn thương trước các rủi ro khí hậu, ví dụ như cân nhắc thời gian gieo trồng và thu hoạch, không đánh bắt vào những tháng mưa bão trong năm,… hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích hợp với điều kiện thời tiết và tình trạng đất đai,. Đối với vấn đề lũ lụt, những cơn lũ thường xuyên xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định trong năm sẽ có những tác động khác biệt so với những cơn lũ bất ngờ không mong đợi xảy ra vào những khoảng thời gian khác của năm. Do đó, người dân thường chỉ có thể lập kế hoạch để ứng phó với những cơn lũ thường xuyên (ví dụ thu hoạch mùa vụ trước mùa lũ, di dời tài sản, ..) trong khi những cơn lũ không dự đoán được thực sự là thảm họa và nằm ngoài khả năng ứng phó của họ. Ngoài ra, người dân cũng áp dụng các biện pháp truyền thống về dự báo thiên tai, dự báo thời tiết, đài phát thanh và các phương tiện truyền thông khác để thích ứng với những thời điểm xảy ra nhiều thiên tai nhất. Khi có dấu hiệu bão, họ sẽ gia cố đê điều, tàu, thuyền, bảo quản ngư cụ, tài sản, bảo vệ nhà cửa.

Bên cạnh đó, nguồn lực xã hội (thông qua các mối quan hệ xã hội và mạng lưới trong cộng đồng) đóng vai trò vô cùng quan trọng trong các hoạt động thích ứng thông qua việc chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm tốt nhất giữa những người dân trong cộng đồng với nhau. Khi có bão, người dân thường có nhiều cách thức hỗ trợ lẫn nhau trong việc bảo vệ tàu, thuyền, tài sản và nhà cửa.

Tuy nhiên, có thể thấy rằng, người dân ven biển đang thực hiện các hoạt động thích ứng một cách tự phát, mang tính đối phó hơn là những hoạt động thích ứng có kế hoạch, mang tính chủ động trước các rủi ro về sinh kế do biến đổi khí hậu gây ra. Điều này là do việc hình thành các chiến lược sinh kế thích ứng và sự đa dạng hóa sinh kế phụ thuộc rất lớn vào sự tích lũy và sự đa dạng về các nguồn lực sinh kế của các hộ gia đình. Trên thực tế, các hộ gia đình ven biển đa số là những hộ nghèo nên bị hạn chế về các nguồn lực sinh kế, đặc biệt là nguồn lực tài chính và nguồn lực con người.

Nguồn lực tài chính luôn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra một sinh kế ổn định và an toàn trước các tác động của môi trường bên ngoài. Người nghèo đều có những đặc điểm khá giống nhau về chất lượng nhà ở, tiếp cận đất đai, dự trữ tài sản vật chất và tình trạng nợ nần (ví dụ như vay ngân hàng). Điều này cho thấy các hộ gia đình ở các nhóm kinh tế – xã hội có thể thực hiện các hoạt động sinh kế giống nhau và chỉ khác nhau về qui mô và chi phí đầu tư, đặc biệt đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp. Đối với những hoạt động khác như đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, chỉ có những người có đủ vốn mới có thể đầu tư cho hoạt động này. Chính vì vậy, người nghèo khó điều chỉnh các hoạt động sinh kế khi hoạt động đó đòi hỏi chi phí lớn (ví dụ như chi phí để đầu tư vào giống mới trong nông nghiệp hoặc chuyển đổi từ trồng trọt sang nuôi trồng thủy sản để thích ứng với các điều kiện khí hậu). Mặc dù các hộ gia đình ít nhiều có thể vay tiền từ bạn bè hoặc ngân hàng để phục hồi sinh kế và các tài sản bị thiệt hại, song thiếu các nguồn lực tài chính bền vững vẫn là trở ngại lớn trong việc thực hiện các hoạt động thích ứng về sinh kế được lập kế hoạch.

Nguồn lực con người, thể hiện qua kiến thức và kỹ năng mà hộ gia đình áp dụng để thực hiện các hoạt động sinh kế, cũng là yếu tố quyết định việc hộ gia đình có thể thực hiện được một hoạt động sinh kế thích ứng nào đó không. Ví dụ, ngay cả khi có nguồn lực tài chính, không phải hộ gia đình nào cũng có thể chuyển đổi từ đất bị xâm nhập mặn trong sản xuất nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản vì điều này đòi hỏi hộ gia đình phải được đào tạo về các kỹ năng nuôi trồng thủy sản. Do đó, chỉ khi có những hỗ trợ về tái đào tạo nghề, những hộ gia đình này mới có thể chuyển đổi nghề nghiệp để thích ứng với các điều kiện mới về khí hậu.

Ngoài ra, tất cả các hoạt động sinh kế chính ở vùng ven biển như đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, và nông nghiệp đều phụ thuộc vào khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nguồn nước. Do đó, việc tiếp cận và quản lý bền vững tài nguyên nước tại các địa phương ven biển đóng vai trò thiết yếu đối với sự thích ứng về sinh kế. Cơ sở hạ tầng ở địa phương, đặc biệt là hệ thống đê biển, thủy lợi, thoát nước,… cũng ảnh hưởng lớn đến sinh kế người dân. Tuy nhiên, những yếu tố này đều nằm ngoài năng lực và sự kiểm soát của các hộ gia đình.

Những khoảng trống trên cho thấy sự hỗ trợ của nhà nước thông qua các biện pháp tăng cường năng lực thích ứng về sinh kế đóng vai trò quan trọng trong việc giúp người dân chuyển đổi từ thích ứng tự phát, mang tính đối phó sang thích ứng có kế hoạch, mang tính chủ động trước tác động của biến đổi khí hậu.

2. Các biện pháp tăng cường năng lực thích ứng về sinh kế trước tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Thích ứng với sự biến đổi ngày càng bất thường của khí hậu là một quá trình liên tục và lâu dài, đòi hỏi nỗ lực và sự tham gia của tất cả các bên liên quan, bao gồm chính phủ, các ngành, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư. Theo khuyến nghị của nhiều chuyên gia kinh tế, Việt Nam cần tăng cường năng lực thích ứng ở cấp quốc gia, địa phương và cộng đồng nhằm thích ứng thành công với biến đổi khí hậu. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc xây dựng năng lực thích ứng cấp quốc gia/địa phương và tăng cường thực hiện các biện pháp thích ứng theo ngành.

2.1. Xây dựng nâng lực thích ứng cấp quốc gia/địa phương

Tăng cường lồng ghép nội dung thích ứng với biến đổi khí hậu vào công tác lập kế hoạch phát triển cấp quốc gia/ngành/địa phương

Ở cấp chính sách, tăng cường lồng ghép yếu tố biến đổi khí hậu vào chính sách phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững ở cấp quốc gia, ngành và địa phương đóng vai trò cốt lõi trong công tác thích ứng với biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, lập kế hoạch thích ứng với những tác động của biến đổi khí hậu ở địa phương cần phải tiếp cận theo hướng tổng thể, trong đó chương trình phát triển sinh kế bền vững phải được kết hợp với chương trình quản lý rủi ro thiên tai tại địa phương.

Lập kế hoạch dựa vào cộng đồng là khởi điểm cho việc mở rộng các hoạt động thích ứng ở cấp tỉnh và cấp quốc gia

Một trong những biện pháp tốt nhất nhằm giảm thiểu rủi ro từ biến đổi khí hậu là dựa vào kinh nghiệm và kiến thức ở cấp cộng đồng và sử dụng các kinh nghiệm và kiến thức đó như những giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu. Chính vì vậy, nâng cao nhận thức và tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào việc thực hiện các biện pháp thích ứng và giảm thiểu rủi ro khí hậu sẽ quyết định sự thành công của các chương trình thích ứng dựa vào cộng đồng.

Nhu cầu và mối quan tâm của người nghèo, đặc biệt là phụ nữ, cần được coi là yếu tố trọng tâm của công tác thích ứng với biến đổi khí hậu

Người nghèo, đặc biệt là phụ nữ, ít có cơ hội tiếp cận các nguồn lực cần thiết để sẵn sàng ứng phó với thiên tai. Hơn nữa, họ là lực lượng lao động chính trong nông nghiệp và các hoạt động không chính thức vốn rất dễ bị tổn thương trước những rủi ro thiên tai và khí hậu. Do đó, họ chính là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước sự thay đổi bất thường của khí hậu. Hoạch định các chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu, đặc biệt ở cấp địa phương, cần ưu tiên đến nhóm dễ bị tổn thương này nhằm làm giảm sự tổn thương cả về thể chất và vật chất của các nhóm này.

Cộng đồng quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ những nỗ lực thích ứng của chính phủ Việt Nam

Các nghiên cứu quốc tế về thích ứng với biến đổi khí hậu ở Việt Nam cho rằng, để có thể thực hiện hiệu quả công tác thích ứng ở những nơi có rủi ro cao, cần phải có những khoản đầu tư lớn hơn rất nhiều so với khả năng tài chính của chính quyền cấp quốc gia và địa phương. Ví dụ, xây dựng các hệ thống đê mới hay củng cố các hệ thống đê hiện có nhằm đối phó với nước biển dâng đòi hỏi những khoản đầu tư lớn và thường nằm ngoài khả năng ngân sách của Việt Nam. Vì vậy, cộng đồng quốc tế sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chiến lược giảm thiểu rủi ro từ biến đổi khí hậu được lập kế hoạch ở cấp quốc gia cũng như thực hiện các sáng kiến thích ứng cụ thể ở cấp cộng đồng.

2.2. Tăng cường thực hiện các biện pháp thích ứng theo ngành

Xây dựng sinh kế nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu

  • Tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng nông nghiệp: qui hoạch vùng thửa, nâng cấp hệ thống thuỷ lợi nội đồng và hệ thống đê điều để giảm tình trạng xâm nhập mặn vào ruộng; qui hoạch các vùng đất nhiễm mặn để chuyển đổi mục đích sử dụng đất; qui hoạch cây trồng vật nuôi có khả năng thích nghi với biến đổi khí hậu,
  • Tăng cường trợ giúp kỹ thuật của hệ thống khuyến nông ở nông thôn,
  • Tăng cường công tác chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật như: giống lúa mới có khả năng chịu mặn và chịu hạn tốt, tạo nguồn giống thích ứng với địa phương, thành lập các ngân hàng giống cũng như tăng cường các kỹ năng thâm canh trong nông nghiệp để tăng năng suất trên những vùng đất không bị nhiễm mặn.

Xây dựng sinh kế thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu

  • Xây dựng hệ thống thông tin về nghề cá,
  • Tăng cường quản lý tài nguyên biển dựa vào cộng đồng,
  • Cải tiến công tác quản lý nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là các quy định về môi trường,
  • Giới thiệu các giống loài thủy sản có khả năng thích nghi với môi trường bị thay đổi.

Hỗ trợ chung để xây dựng các sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu

  • Xây dựng bản đồ ngập lụt và vùng chịu nhiều thiên tai ở cấp địa phương,
  • Đảm bảo tiếp cận các chương trình tín dụng, các dịch vụ bảo hiểm và tài chính khác cho người dân
  • Tăng cường các khoản hỗ trợ khẩn cấp, đặc biệt khi có thiên tai,
  • Tập huấn kỹ năng để giúp người dân chuyển đổi nghề nghiệp,
  • Giáo dục, nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu và những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sinh kế.