Cách mạng tháng mười Nga và chính sách ngoại giao mới

NCS. HOÀNG DIỆU THÚY
Trường Đại học Hoa Lư

Cách mạng Tháng Mười Nga là sự kiện chính trị đặc biệt có ảnh hưởng sâu sắc đến mối quan hệ quốc tế. Nó bắt đầu thời đại của chính sách ngoại giao hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc. Cuộc cách mạng vĩ đại này không chỉ mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử nước Nga và các dân tộc bị nô dịch, phụ thuộc trên thế giới mà còn trở thành ngọn cờ hiệu triệu cho cuộc đấu tranh vì những mục tiêu cao cả: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

      1. Cách mạng Tháng Mười thành công xây dựng nên những nguyên tắc của kiểu quan hệ quốc tế mới. Đó là những nguyên tắc không phải trên cơ sở các dân tộc lớn áp bức các dân tộc nhỏ yếu, mà trên nền hòa bình của tất cả các dân tộc và sự bình đẳng của các quốc gia. Nó tạo nên những khởi đầu tích cực trong mối quan hệ quốc tế vốn rất phức tạp lúc đó. Một trong những khẩu hiệu mà cách mạng Tháng Mười giương cao là: hòa bình, phản đối chiến tranh, chấm dứt chiến tranh đế quốc. Bởi vậy, cách mạng Tháng Mười đã giành được thiện cảm sâu sắc của nhân dân yêu chuộng hòa bình ở khắp năm châu. Khẩu hiệu này về sau trở thành biểu tượng sáng ngời, tác động sâu sắc đến cuộc đấu tranh giải phóng ở nhiều nơi trên toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười đã đem lại cho các dân tộc quyền tự quyết và những phương tiện để các dân tộc thực hiện quyền tự quyết đó. Đây chính
là một giá trị, một chuẩn mực quốc tế trong mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc có chủ quyền. Cách mạng Tháng Mười cũng chấm dứt thời đại độc tôn của chủ nghĩa tư bản trong nền kinh tế – chính trị thế giới, đặt nền móng cho sự phát triển ổn định và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần ngợi ca tấm gương của cách mạng Nga trong việc thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Người viết: Cách mạng Nga “không vừa lòng với việc đọc những bài diễn văn rỗng tuếch và viết ra những quyết định “nhân đạo” đối với các dân tộc bị áp bức”(1), nó dạy các dân tộc đấu tranh, giúp đỡ họ bằng tinh thần và vật chất. Và bằng những hành động cụ thể, thiết thực, cách mạng Nga cố gắng giúp cho khát vọng hòa bình của đông đảo quần chúng nhân dân được hiện thực hóa, tạo điều kiện thuận lợi để thế giới mới ra đời, “ngày càng phồn vinh, càng mạnh mẽ như hoa nở mùa Xuân”(2).

      Những nguyên tắc mới trong quan hệ với các quốc gia, dân tộc được thực hiện ngay sau khi cách mạng Tháng Mười thành công. Hành động đầu tiên của chính quyền Xôviết non trẻ là thông qua sắc lệnh về hòa bình vào ngày 26 tháng 10 năm 1917 (lịch Nga cũ, tức ngày 8 tháng 11 dương lịch). Sắc lệnh này sau đó được công khai, đăng trên báo Sự thật, số 171, ngày 28 tháng 10 năm 1917. Sắc lệnh đánh dấu sự mở đầu một chính sách ngoại giao mới, một kiểu quan hệ quốc tế mới của chính quyền Xôviết. Sắc lệnh tuyên bố với thế giới sẽ thực hiện chính sách ngoại giao hoà bình, loại bỏ kiểu áp đặt, bất bình đẳng đã tồn tại qua nhiều thế kỷ. Sắc lệnh khẳng định hành động xâm chiếm của các nước đế quốc là hành động chống lại loài người, tội ác lớn nhất đối với nhân loại. Sự cưỡng bức dân tộc cũng chính là một cuộc xâm chiếm, một hành vi bạo lực. Thông qua việc phân tích tình hình thế giới, Sắc lệnh chỉ ra hiện nay không có và không thể có con đường nào khác ngoài con đường đi đến chủ nghĩa quốc tế và sự hòa hợp giữa các dân tộc. Sắc lệnh kêu gọi tất cả các nước tham gia chiến tranh tiến hành ngay cuộc đàm phán về một hòa ước dân chủ và công bằng, không có thôn tính (không xâm chiếm đất đai, không cưỡng ép sáp nhập các dân tộc khác). Đây là hòa ước mà tuyệt đại đa số công nhân và các giai cấp cần lao trong các nước tham chiến khao khát. Hành động, quan điểm mang tính nhân văn này nhanh chóng giành được sự thiện cảm, đồng tình ủng hộ của nhân dân các dân tộc yêu chuộng hòa bình ở khắp năm châu, bởi nó đã thỏa mãn niềm mong mỏi, khát khao từ bao lâu nay của loài người về một thế giới hoà bình thật sự. Sắc lệnh hòa bình trở thành cơ sở cho chính sách đối ngoại của Nhà nước Xôviết. Nó tích cực giúp cách mạng Nga rút ra khỏi chiến tranh, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân lao động và các lực lượng hoà bình, dân chủ trên toàn thế giới nhằm tái thiết nước Nga, xây dựng xã hội mới.

      Đến ngày 2 tháng 11 năm 1917, chính quyền Xôviết cũng tuyên bố bản Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc nước Nga. Tuyên bố khẳng định những nguyên tắc căn bản của chính quyền Xôviết đối với các vấn đề dân tộc là: bình đẳng và chủ quyền của các dân tộc; quyền của các dân tộc nước Nga được tự quyết một cách tự do, kể cả việc tách ra và thành lập các quốc gia độc lập; xóa bỏ tất cả các đặc quyền và hạn chế về dân tộc và tôn giáo – dân tộc; các dân tộc thiểu số và các nhóm dân chúng sống trên lãnh thổ Nga được phát triển tự do. Đây là những nguyên tắc pháp lí quan trọng về vấn đề dân tộc. Trung thành với những nguyên tắc này, chính quyền Xôviết tán thành quyền tách ra hoặc thừa nhận quyền độc lập, xóa bỏ mọi hiệp ước bất bình đẳng của chính phủ Nga hoàng trước đây đối với một số nước.

      2. Không dừng lại ở sắc luật có tính chất văn bản pháp lý, chính quyền Xôviết còn nhiệt tình giúp đỡ cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức và bảo vệ quyền tự do, bình đẳng của các dân tộc ấy. Chính quyền Xôviết tích cực hoạt động mở rộng quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia dân tộc, khẳng định nguyên tắc chung sống hòa bình với các nước có chế độ xã hội khác nhau và cố gắng làm cho nguyên tắc đó trở thành cơ sở mối quan hệ quốc tế giữa các nước. Chính quyền Xôviết chủ trương thực hiện quyền dân tộc tự quyết, định ra quyền bình đẳng dân tộc dựa trên sự quan tâm đặc biệt đến lợi ích và yêu cầu của những dân tộc trước kia bị áp bức. Trong khi chính quyền Xôviết rất coi trọng và kiên trì thi hành chính sách ngoại giao hòa bình thì ở một số nước lớn như Mỹ chính sách ngoại giao lại “bị quân sự hóa, và tư tưởng đàm phán đã bị xóa bỏ…”(3). Chính quyền Xôviết nỗ lực chống chiến tranh, thành thật bảo vệ nền hòa bình, trung thành với tình đoàn kết quốc tế, chống lại sự dối trá của những chính phủ luôn nói hòa bình, công lý, nhưng sau đó lại tiến hành chiến tranh xâm lược, cướp bóc và chính sách ngoại giao đầy sự bịa đặt. Cho dù bịa đặt trong ngoại giao được coi là một tội ác nhưng tiếc thay nó “trở thành một bộ phận quan trọng trong chính sách ngoại giao của một số nước, không những các phóng viên thời sự, các chuyên gia tuyên truyền của họ bịa đặt, thậm chí cả nhà cầm quyền của đường đường một nước lớn cũng bịa đặt”(4).

      Năm 1921, Đại hội Bacu(*) được tổ chức. Đại hội đánh dấu sự kiện giai cấp vô sản khắp nơi trên thế giới liên kết lại với nhau cùng thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Đánh giá sự kiện này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cách mạng Nga đã triệu tập Đại hội Bacu… Lần đầu tiên trong lịch sử, giai cấp vô sản ở các nước xâm lược và giai cấp vô sản ở các nước bị xâm lược đã nắm tay nhau trong tình anh em và cùng nhau tìm cách đấu tranh có hiệu quả chống chủ nghĩa tư bản là kẻ thù chung của họ”(5). Sau Đại hội lịch sử ấy, mặc dầu vấp phải những khó khăn cả bên trong và bên ngoài, nhưng nước Nga vẫn tiếp tục giúp đỡ nhiệt tình các dân tộc mà nó thức tỉnh không một chút do dự. Đến năm 1922, lần đầu tiên khi được mời chính thức tham dự Hội nghị quốc tế Gienovơ (tổ chức tại Italia với 34 nước tham dự), đoàn đại biểu Xôviết đã đưa ra đề nghị về việc thiết lập các quan hệ ngoại giao và kinh tế, thực hiện chung sống hoà bình và tiến hành giải trừ quân bị. Nước Nga sẵn sàng bình thường hoá quan hệ với tất cả các nước trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, hợp tác cùng có lợi và cùng tồn tại hoà bình. Với chính sách ngoại giao như vậy, Liên bang Xôviết được giữ vững và phát triển mở rộng, từng bước xác lập quan hệ ngoại giao với một số nước láng giềng châu Á, châu Âu, phá vỡ chính sách bao vây, cô lập về kinh tế và ngoại giao của các nước đế quốc. Bằng những biện pháp đấu tranh kiên quyết và mềm dẻo, chỉ trong vòng 4 năm (1922 – 1925) Liên bang Xôviết đã được các cường quốc tư bản: Đức, Anh, Italia, Pháp, Nhật lần lượt công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao, đồng thời thiết lập ngoại giao với 20 nước khác trên thế giới. Đến năm 1933, Mỹ công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên bang Xôviết. Đây là những thắng lợi to lớn của ngoại giao đồng thời khẳng định uy tín của Liên bang Xôviết trên trường quốc tế.

      Cách mạng Tháng Mười thành công, Nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời, hòa bình vừa là bản chất, vừa là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau được thực hiện. Nguyên tắc này bao hàm sự phủ nhận chiến tranh với tư cách là phương tiện thực hiện chính sách đối ngoại của các nước đế quốc, đồng thời thừa nhận quyền của tất cả các dân tộc được tự mình giải quyết vận mệnh của mình, tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và phát triển sự hợp tác bình đẳng giữa các nước. Phe xã hội chủ nghĩa đã nâng cuộc đấu tranh cho hòa bình thế giới lên tầm cao mới khi gắn hòa bình với các mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chính bởi tấm gương của cuộc cách mạng Tháng Mười và tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội nên nhiều nước sau khi giành độc lập đã lựa chọn con đường phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội. Từ đây, xã hội chủ nghĩa hình thành hệ thống, vô sản thế giới trở thành một đại gia đình. Mặc cho bọn đế quốc tìm mọi thủ đoạn để chia rẽ, nhưng các nước xã hội chủ nghĩa vẫn luôn giữ vai trò và có nhiều cống hiến quan trọng đối với tiến trình thực hiện các mục tiêu quan trọng của nhân loại là: hòa bình, an ninh và phát triển. Liên bang Xôviết trở thành thành trì của hòa bình, một lực lượng hùng mạnh sẵn sàng đánh bật bất cứ cuộc xâm lược nào. Chính Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XX cũng nhận định: Phe xã hội chủ nghĩa hùng cường yêu chuộng hòa bình, nhờ đó các lực lượng yêu chuộng hòa bình không những có các phương tiện tinh thần mà còn có cả những phương tiện vật chất để ngăn cản xâm lược.

      3. Chính sách ngoại giao mới mở ra từ cách mạng Tháng Mười đem đến cho các dân tộc nhất là ở phương Đông sự giúp đỡ to lớn. Nếu cuộc cách mạng Tháng Mười được ví như tiếng sét đánh thức nhân dân nhiều nước đặc biệt nhân dân châu Á tỉnh dậy sau giấc mê nhiều thế kỷ, thì chính sách ngoại giao hòa bình trở thành chỗ dựa quan trọng cho các dân tộc thuộc địa đấu tranh đòi những quyền lợi chính đáng của mình. Sau cách mạng Tháng Mười, mặc dù thế giới chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh đẫm máu nhưng rõ ràng xu thế phát triển của thế giới không bị đảo ngược. Thành quả đó không thể phủ nhận vai trò của cách mạng Tháng Mười và những nỗ lực bền bỉ của chính quyền Xôviết. Vì thế, tất cả các dân tộc, nhất là “các nước phương Đông, dù thuộc chế độ nhà nước và xã hội nào, đều biết ơn Liên Xô một cách sâu sắc về chính sách yêu chuộng hòa bình và chủ nghĩa quốc tế vô sản của Liên Xô. Những chính sách đó làm cho các dân tộc phương Đông ngày càng tin tưởng hướng theo tư tưởng xã hội chủ nghĩa vĩ đại”(6), lấy hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội làm mục tiêu phan đau.

      Với Việt Nam, cách mạng Tháng Mười “như tiếng sấm vang trong đêm tối, nó đánh thức tinh thần giai cấp, tinh thần yêu nước, và gây lòng tự tin cho công nhân, nông dân và nhân dân lao động”(7). Việt Nam cũng có khát vọng hòa bình, độc lập và tự do, nên “nhiệt liệt ủng hộ chính sách ngoại giao hoà bình … của Liên Xô và các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa”(8). Nhân dân Việt Nam tin chắc rằng mọi sự phân tranh trên thế giới đều có thể giải quyết bằng biện pháp hoà bình; tin chắc rằng các nước dù chế độ xã hội khác nhau và hình thái ý thức khác nhau cũng đều có thể chung sống hoà bình được. Việt Nam khẳng định “sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi, và chung sống hoà bình”(9). Trên tinh thần đó, Việt Nam lấy 5 nguyên tắc lớn là nền tảng bang giao thân thiện và hòa bình. Năm nguyên tắc lớn ấy bao gồm: tôn trọng chủ quyền và lãnh thổ toàn vẹn của nhau, chung sống hòa bình, không xâm phạm nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, đối đãi nhau bình đẳng và đôi bên đều có lợi. Đề cập vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “Về quan hệ quốc tế, chúng tôi luôn luôn trung thành với chính sách hòa bình và hợp tác giữa các nước trên cơ sở năm nguyên tắc chung sống hòa bình”(10), “Chính sách ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có một điều tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hoà bình”(11) hoặc “Về chính sách ngoại giao, Chính phủ và nhân dân ta chủ trương hợp tác thân thiện với các nước trên nền tảng năm nguyên tắc chung sống hòa bình”(12) … Là một thành viên trong cộng đồng quốc tế, nhiều năm qua, Việt Nam đã có nhiều đóng góp tích cực cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế, góp phần hiện thực hóa những tuyên ngôn về hòa bình của cách mạng Tháng Mười và Tuyên ngôn độc lập nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 2 tháng 9 năm 1945.

      Chính sách ngoại giao hòa bình được mở ra từ sau cuộc cách mạng Tháng Mười đến nay vẫn là xu thế phát triển của thế giới. Đây là cống hiến có ý nghĩa lớn lao đối với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại không chỉ trong thế kỷ XX. Chính sách này đến nay vẫn còn nguyên giá trị đặc biệt trong thế kỷ XXI khi mà trật tự thế giới đang diễn ra theo xu hướng chuyển từ đối đầu sang đối thoại, bình thường hóa, đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ quốc tế; xu hướng vừa hợp tác, vừa cạnh tranh và phát triển, nhưng chứa đựng nhiều nguy cơ tiềm ẩn. Các vấn đề toàn cầu trở nên gay gắt, muốn giải quyết thành công đòi hỏi sự hợp sức của tất cả các quốc gia. Nghiên cứu chính sách ngoại giao mới để vận dụng và phát triển trong bối cảnh hiện nay vì lẽ đó càng có ý nghĩa quan trọng trong việc tiến tới thiết lập một trật tự quan hệ quốc tế công bằng, tiến bộ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội 2011, Tập 1, tr.320.

(2), (8)Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, Tập 12, tr.321; tr.674

(3), (7)Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, Tập 13, tr.373; tr.488

(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, Tập 3, tr.212

(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, Tập 2, tr.130

(6), (10), (12) Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, Tập 11, tr.166; tr.271; tr.316

(9) Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, Tập 10, tr.12

(11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, Tập 5, tr.39

 

Recommended For You