Thứ tư, 19/05/2021 00:47 (GMT+7)
Chủ nhật, 11/04/2021 08:12 (GMT+7)

Canh tác theo mô hình 'thuận thiên' góp phần đảm bảo an ninh tài nguyên nước

Thích ứng với BĐKH mang lại cơ hội trong đổi mới mô hình sản xuất, lựa chọn các giải pháp thích ứng theo hướng “thuận thiên”, sản xuất nông nghiệp phù hợp với điều kiện hạn, mặn nhằm tránh các bất lợi của thời tiết và các hiện tượng thời tiết cực đoan.

Việt Nam là quốc gia có mạng lưới sông ngòi dày đặc và nguồn tài nguyên nước dồi dào. Tuy nhiên, giờ đây, ở nhiều nơi, người dân đang đối mặt với tình trạng thiếu nước sinh hoạt và sản xuất, điều này đặt ra mối lo ngại về an ninh nguồn nước trong thời gian tới.

Để nhận diện rõ thực trạng, tìm hiểu những thách thức từ biến đổi khí hậu (BĐKH), các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội đối với vấn đề an ninh nguồn nước tại Việt Nam, đồng thời nắm bắt các chính sách, giải pháp từ cơ quan quản lý Nhà nước, Tạp chí Kinh tế Môi trường đã gửi văn bản đề nghị được trao đổi với Bộ Tài nguyên và Môi trường trong chuyên đề “An ninh Nước vì Phát triển bền vững”. 

ĐẢM BẢO AN NINH NGUỒN NƯỚC LÀ TRÁCH NHIỆM, NGHĨA VỤ CỦA CẢ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VÀ TOÀN DÂN

- Bộ Tài nguyên và Môi trường đánh giá như thế nào về vai trò của việc đảm bảo an ninh nguồn nước đối với sự phát triển của đất nước? Với địa thế địa hình của Việt Nam, chúng ta có lợi thế, hạn chế nào trong việc đảm bảo an ninh nguồn nước?

Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết: An ninh nguồn nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển đất nước, góp phần ổn định chính trị, an ninh quốc gia. Đảm bảo an ninh nguồn nước là yêu cầu tất yếu khách quan, là trách nhiệm, nghĩa vụ của cả hệ thống chính trị và toàn dân.

Việt Nam có 3.450 sông, suối có chiều dài từ 10 km trở lên nằm trong 108 lưu vực sông được phân bố và trải dài trên cả nước đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Bên cạnh đó, với địa thế, địa hình của Việt Nam, tài nguyên nước đang phải đối mặt với các thách thức trong việc đảm bảo an ninh nguồn nước, cụ thể là:

Phần lớn các hệ thống sông lớn của Việt Nam đều là các sông xuyên biên giới mà Việt Nam là quốc gia ở hạ nguồn. Chính vì thế, tài nguyên nước của Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào nước ngoài và bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các hoạt động khai thác, sử dụng nước của các quốc gia thượng lưu. Trong các năm gần đây, các quốc gia ở thượng nguồn đã và đang đẩy mạnh việc khai thác sử dụng nước trên các sông liên quốc gia, nhất là trên lưu vực sông Mê Kông và lưu vực sông Hồng đã và đang là nguy cơ trực tiếp làm suy giảm nguồn nước chảy vào Việt Nam, đe dọa an ninh nguồn nước của nước ta.

tm-img-alt
Việt Nam là quốc gia có mạng lưới sông ngòi dày đặc và nguồn tài nguyên nước dồi dào.

Ngoài ra, các hoạt động khai thác, sử dụng nước, phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia thượng nguồn còn có nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái nguồn nước của nước ta. Tuy nhiên, cho đến nay chúng ta vẫn chưa có được cơ chế, chính sách, biện pháp hiệu quả để hợp tác, chia sẻ nguồn nước giữa các quốc gia có chung nguồn nước.

Bên cạnh đó, tài nguyên nước của nước ta phân bố không đều theo không gian và thời gian. Toàn bộ phần lãnh thổ từ các tỉnh biên giới phía Bắc đến thành phố Hồ Chí Minh, nơi có 80% dân số và trên 90% hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ nhưng chỉ có gần 40% lượng nước của cả nước; 60% lượng nước còn lại là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi chỉ có 20% dân số và khoảng 10% hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ. Lưu vực sông Đồng Nai, chỉ có 4,2% lượng nước, nhưng đang đóng góp khoảng 30% GDP của cả nước.

Lượng nước trong 3-5 tháng mùa lũ chiếm tới 70-80%, trong khi đó 7-9 tháng mùa kiệt chỉ xấp xỉ 20-30% lượng nước cả năm. Phân bố lượng nước giữa các năm cũng biến đổi rất lớn, trung bình cứ 100 năm thì có 5 năm lượng nước chỉ bằng khoảng 70-75% lượng nước trung bình nêu trên.

- Việt Nam là một trong năm quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH. Theo đó, tài nguyên nước quốc gia đang phải đối mặt với những thách thức nào, đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng?

Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết: Việt Nam là một trong những quốc gia trong khu vực Đông Á, Thái Bình Dương chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai và rủi ro thiên tai đang gia tăng. Trong đó, tài nguyên nước sẽ chịu những ảnh hưởng lớn nhất và sớm nhất do những diễn biến bất thường về lượng mưa và nước biển dâng, tập trung mạnh nhất ở hai khu vực sản xuất lúa gạo và sản phẩm thủy sản chủ yếu của cả nước là vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng.

Hiện tượng này đã xuất hiện rõ trong những năm gần đây và ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên nước, điển hình là hiện tượng hán hán, thiếu nước trên các lưu vực sông. Cụ thể như đợt hạn hán lịch sử vào mùa khô năm 2016 xảy ra ở phần lớn các khu vực ở nước ta như vùng Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long...

tm-img-alt
Hạn mặn khốc liệt xảy ra ở đồng bằng sông Cửu Long. 

Nguyên nhân là do một đợt El Nino mạnh và kéo dài kỷ lục (từ 2014 đến giữa năm 2016 mới chấm dứt). Hệ quả của nó là dòng chảy trên hầu hết các sông, suối từ khu vực miền Trung, Tây Nguyên đến đồng bằng sông Cửu Long đều suy giảm nghiêm trọng, nhiều nơi đạt mức thấp kỷ lục dẫn đến tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, thiếu nước, kể cả nước sinh hoạt...

Hiện nay, tại vùng đồng bằng sông Cửu Long đang diễn ra đợt hạn, mặn kỷ lục với quy mô và mức độ ngày càng khốc liệt. Đặc biệt, vấn đề trước đây của vùng đồng bằng sông Cửu Long là sống chung với lũ, nhưng ngày nay việc thiếu nước ngọt đã trở thành vấn đề nghiêm trọng.

- Bên cạnh ảnh hưởng của BĐKH, hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội có đang đe dọa nghiêm trọng đến an ninh nguồn nước hay không?

Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết: Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa đòi hỏi nhu cầu nước cho sản xuất và dân sinh ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng, nhưng phát triển cũng ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng, trữ lượng nguồn nước. Nhu cầu về nước ngày càng tăng dẫn đến việc khai thác sử dụng tài nguyên nước ngày càng nhiều. Nhu cầu dùng nước ở nước ta do tăng dân số, đô thị hóa, công nghiệp hóa… sẽ lên đến khoảng 130-150 tỉ m3/năm, chiếm tới gần 50% lượng nước sản sinh trên lãnh thổ nước ta, gần 90% nguồn nước mùa khô (khoảng 170 tỉ m3).

Ngoài ra, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước mặt, nước ngầm, thiếu nước, khan hiếm nước trở nên phổ biến hơn. Tình trạng nguồn nước mặt bị ô nhiễm từ những nguyên nhân khách quan còn có nguyên nhân chủ quan do tác động từ phía con người đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới an ninh nguồn nước, cụ thể:  

Cạnh tranh giữa sử dụng nước cho thủy điện và các nhu cầu tiêu thụ nước khác, đặc biệt cho sản xuất nông nghiệp ở hạ du một số lưu vực sông lớn đã xảy ra trong những năm gần đây, nhất là trong mùa khô.

tm-img-alt
Cạnh tranh giữa sử dụng nước cho thủy điện và các nhu cầu tiêu thụ nước khác cũng đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới an ninh nguồn nước. 

Việc suy giảm rừng đầu nguồn, diện tích rừng không được cải thiện, chất lượng rừng kém làm giảm nguồn sinh thủy của các sông, suối, hồ chứa;

Nhu cầu sử dụng nước gia tăng trong khi tình trạng sử dụng nước lẵng phí, kém hiệu quả còn khá phổ biến;

Chưa bảo đảm việc sử dụng tổng hợp, đa mục tiêu, hiệu quả tài nguyên nước, nhất là huy động nguồn nước của hệ thống các hồ chứa tham gia điều tiết dòng chảy cho hạ du....

Bên cạnh đó do khai thác thiếu hợp lý, dẫn đến khai thác quá mức ở một số khu vực, lưu vực sông.

THÍCH ỨNG VỚI BĐKH ĐEM LẠI CƠ HỘI MỚI

- Có nhận định cho rằng, ngoài những thách thức, BĐKH cũng mở ra cơ hội phát triển mới, mấu chốt là phải lựa chọn mô hình thích ứng theo sự thay đổi của BĐKH, thiên nhiên, thay đổi tư duy canh tác… Bộ nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết: BĐKH là một rủi ro cao, đồng thời cũng mang đến nhiều cơ hội, đặc biệt cho những nước như Việt Nam để tận dụng các cơ hội mới thay đổi mô hình phát triển, duy trì được các thành tựu tăng trưởng từ trước đến nay:

Một là, BĐKH tạo động lực đổi mới cơ chế, chính sách ứng phó với BĐKH. Những năm gần đây khung pháp lý về ứng phó BĐKH đã từng bước được hoàn thiện. Điều này được phản ánh qua sự ra đời của các văn bản pháp luật như như Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010; Luật Tài nguyên nước năm 2012; Luật Phòng, tránh thiên tai năm 2013; Luật Bảo vệ môi trường năm 1994 (sửa đổi, bổ sung vào các năm 2005, 2014; 2020); Luật Khí tượng thủy văn năm 2015… Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã bổ sung các quy định về thích ứng với BĐKH, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, bảo vệ tầng ô-zôn, trong đó xác định nội dung và trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và môi trường, các Bộ, ngành liên quan và địa phương về thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; bổ sung quy định về lồng ghép nội dung ứng phó với BĐKH vào hệ thống chiến lược, quy hoạch, thực hiện cam kết quốc tế về BĐKH và bảo vệ tầng ô-dôn.

Hai là, mang lại cơ hội đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, đổi mới ứng dụng công nghệ thân thiện với môi trường và công nghệ giảm phát thải. Trước yêu đặt ra đối với ứng phó BĐKH, cần đẩy mạnh phát triển nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo tạo, nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia.

Ba là, đa dạng hoá các nguồn lực ứng phó với BĐKH. Bên cạnh nguồn ngân sách nhà nước, cần tích cực thu hút các nguồn tài trợ song phương và đa phương, các tổ chức chính trị xã hội, khối tư nhân…đầu tư vào BĐKH. Cần tiếp tục cải cách các công cụ kinh tế gồm thuế phí môi trường để tăng thu ngân sách tạo nguồn lực ứng phó BĐKH, hạn chế sản xuất, tiêu dùng sản phẩm gây nguy hại đối với môi trường; đẩy mạnh hợp tác công tư (PPP) trong các dự án ứng phó BĐKH; thúc đẩy phát triển trái phiếu xanh để huy động vốn cho ứng phó BĐKH…

tm-img-alt
Chuyển đổi mô hình nông nghiệp theo hướng thuận thiên, thích ứng tốt với BĐKH góp phần đảm bảo an ninh nguồn nước. 

Bốn là, thay đổi mô hình sản xuất theo hướng giảm phát thải, tận dụng tiềm năng, lợi thế về tài nguyên.

Thích ứng với BĐKH mang lại cơ hội trong đổi mới mô hình sản xuất, lựa chọn các giải pháp thích ứng theo hướng “thuận thiên”, sản xuất nông nghiệp phù hợp với điều kiện hạn, mặn, các mô hình theo xu thế thời tiết, khí hậu nhằm tránh các bất lợi của thời tiết và các hiện tượng thời tiết cực đoan.

Một số mô hình thích ứng với BĐKH có thể kể đến là mô hình canh tác lúa cải tiến (SRI); canh tác ngô xen đậu (IMB), sắn với lạc, đậu (ICB); canh tác tổng hợp cà phê (ICoM); mô hình thâm canh cây ăn quả theo VietGAP (VGP) thích ứng với BĐKH; mô hình canh tác tổng hợp (lúa tôm, lúa cá, lúa vịt, lúa và kết hợp tái sử dụng phụ phẩm làm phân bón, sản xuất năng lượng) thích ứng với BĐKH trên hệ sinh thái đất trồng lúa; mô hình nông lâm kết hợp cho việc phát triển cây ăn quả, nhằm nâng cao sinh kế và khả năng thích ứng với BĐKH của người dân vùng Tây Bắc Việt Nam; mô hình canh tác các giống cây trồng, phương pháp xen canh, thâm canh thích ứng với BĐKH. Các mô hình này bước đầu triển khai đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, giảm tác động do BĐKH gây ra.

- Để đạt được mục tiêu đảm bảo an ninh nguồn nước trong kỷ nguyên đầy biến động, Việt Nam đang triển khai những biện pháp nào để bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước bền vững? Thời gian qua, Bộ Tài nguyên đã có quyết sách gì?

Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết: Tính đến nay, hệ thống pháp luật về tài nguyên nước đã được xây dựng khá toàn diện, đáp ứng yêu cầu quản lý tài nguyên nước trong thời gian tới. Vấn đề còn lại là phải tập trung triển khai trên thực tế để đưa các chính sách, biện pháp quản lý đó vào cuộc sống, bảo đảm quản lý tài nguyên nước có hiệu quả, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững. Trong đó, tập trung vào các giải pháp sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật, chính sách quản lý tài nguyên nước; hoạt động cung cấp và tiêu thụ nước sạch, các quy chuẩn, tiêu chuẩn về chất lượng nước sạch cấp cho mục đích sinh hoạt; trong thời gian tới, tiến hành rà soát, sửa đổi Luật tài nguyên nước, trong đó cần có các quy định khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển tài nguyên nước và các dịch vụ về nước (điều tra cơ bản, quan trắc, giám sát tài nguyên nước, công trình điều tiết nước, cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về nước) theo phương thức xã hội hóa. Mặt khác, cần quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sở hữu công trình tài nguyên nước hoặc thực hiện các dịch vụ về nước.

tm-img-alt
Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, quan trắc, giám sát tài nguyên nước. 

Đồng thời cần phải rà soát lại toàn bộ pháp luật liên quan đến cấp nước sinh hoạt cho người dân để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu bảo đảm an toàn tuyệt đối, bảo đảm an ninh trong việc cấp nước sinh hoạt

Về trách nhiệm, thẩm quyền quản lý, cần quy định đầy đủ, rõ ràng quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước, của các Bộ có quản lý ngành sử dụng tài nguyên nước và chính quyền địa phương các cấp. Phân định rõ giữa quản lý nguồn nước và quản lý hoạt động khai thác, sử dụng trong các lưu vực sông.

Hai là, tập trung xây dựng và phê duyệt quy hoạch tài nguyên nước quốc gia, quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước, quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Hồng, Cửu Long và các lưu vực sông lớn làm cơ sở cho các hành lập quy hoạch có khai thác sử dụng nước.

Ba là, nâng cao trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương và ý thức và nghĩa vụ của người dân trong việc giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước, bảo vệ chất lượng nước các sông, suối, hồ, ao…, nhất là các nguồn nước cấp cho sinh hoạt.

Bốn là, tăng cường công tác dự báo, cảnh báo sớm tài nguyên nước để có các biện pháp chủ động ứng phó nhất là trong bối cảnh BĐKH, thiên tai như hạn hán lũ lụt diễn ra ngày càng thường xuyên hơn và khắc nghiệt hơn; hoàn chỉnh việc xây dựng hệ thống quan trắc, giám sát tài nguyên nước; đồng thời đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra; tăng cường giám sát việc khai thác sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước thông qua hình thức giám sát tự động, trực tuyến.

Năm là, tổng kiểm kê tài nguyên nước quốc gia nhằm nắm chắc nguồn tài nguyên nước Việt Nam và hiện trạng khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước.

Sáu là, tiếp tục thành lập và đưa vào hoạt động các Ủy ban lưu vực sông để thực hiện có hiệu quả và nâng cao vai trò trong việc điều phối, giám sát hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước.

Bảy là, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tài nguyên nước, đặc biệt tăng cường hiệu quả hợp tác với các quốc gia khác trong khai thác, sử dụng bền vững các nguồn nước xuyên biên giới. 

Tám là, xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước và cơ chế chia sẻ thông tin, dữ liệu về quản lý tài nguyên nước giữa trung ương và địa phương; Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật, các biện pháp sự dụng nước tiết kiệm hiệu quả đến tất cả các cấp, các ngành, các tổ chức cá nhân và cộng đồng dân cư; tăng cường đầu tư cho lĩnh vực tài nguyên nước.

Vương Liễu

Bạn đang đọc bài viết Canh tác theo mô hình 'thuận thiên' góp phần đảm bảo an ninh tài nguyên nước. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0917 681 188 Hoặc email: toasoanktmt@gmail.com

Cùng chuyên mục

'Sức mạnh' đặc biệt của rừng mưa ở châu Phi 
So với rừng mưa ở Amazon, rừng mưa châu Phi được phát hiện có khả năng chống chọi bền bỉ hơn với tình trạng biến đổi khí hậu với "năng lực" hấp thu khí thải CO2 trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt.
'Báu vật' trăm năm của làng biển Tam Giang
Trải qua trăm năm, rừng ngập mặn nguyên sinh rộng hàng chục ha với nhiều cây cổ thụ ở làng biển Tam Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam vẫn được người dân giữ gìn, bảo vệ như “báu vật”.
Nước tinh khiết trong băng từ Bắc Cực
Sản phẩm nước băng Bắc Cực đóng chai nhãn hiệu Svalbardi được tung ra thị trường ở Anh năm 2020 với giá 80 bảng Anh (tương đương với hơn 2,2 triệu VND) một chai.

Tin mới

Chúng ta liệu đã an toàn?
Tuần lễ Quốc gia phòng, chống thiên tai năm 2021 từ ngày 15 - 22/5/2021 với chủ đề “Chung tay xây dựng xã hội an toàn trước thiên tai”, được triển khai gắn với thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19.
Mùa lúa chín bình yên nơi xứ Nghệ
Tháng 5, dưới cái nóng đầu hè, bà con nông dân ở xã Thanh Liên, huyện Thanh Chương (Nghệ An) tất bật gặt những sào ruộng cuối cùng để chuẩn bị cho mùa vụ mới.