Từ Đổi mới 1986 đến Kỷ nguyên vươn mình 2026
Từ Đổi mới 1986 đến Kỷ nguyên vươn mình 2026 là hành trình 40 năm chuyển hóa tư duy và mô hình phát triển của Việt Nam. Những thành tựu tích lũy hôm nay đang tạo bệ phóng để đất nước tự tin bước vào giai đoạn phát triển mới.
Những ngày này, người dân Việt Nam đang sống với niềm vui, niềm hân hoan cùng những thành công vang dội của đất nước. Đại hội Đảng lần thứ XIV thành công tốt đẹp, đã bầu chọn được các Ủy viên Trung ương để gánh vác những trọng trách to lớn, lãnh đạo đất nước trong thời gian tới, thời gian đầu của Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
40 năm về trước, đất nước ta cũng đã trải qua một dấu mốc quan trọng, đó là thành công của Đại hội Đảng lần thứ VI, được coi là điểm khởi đầu của công cuộc, thời kỳ đổi mới. Là một công dân được sống, chứng kiến nhiều dấu mốc lịch sử dân tộc từ những năm 1960 đến nay, tôi xin nêu một số cảm nhận, suy nghĩ của mình về quá trình phát triển đất nước và những gì nhận thức được, hy vọng đạt được khi bước vào thời kỳ đầu của Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

GS Hoàng Xuân Cơ - Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam.
Đêm trước Đổi mới
Hoàn cảnh đất nước sau Giải phóng miền Nam năm 1975 đến trước Đại hội VI của Đảng có rất nhiều đổi thay đáng ghi nhận, cả theo chiều tích cực lẫn đôi điều tiêu cực. Trước hết, chúng ta đã hoàn toàn giải phóng miền Nam, kết thúc thắng lợi kháng chiến chống Mỹ gần 20 năm của dân tộc, thu non sông về một mối. Cuộc kháng chiến này rất gian khổ, đã tiêu tốn sức người, sức của rất lớn của đất nước. Cơ sở hạ tầng ở cả hai miền bị tàn phá nghiêm trọng.
Đặc biệt, sau đó chúng ta phải chịu sự cấm vận, không thể tiếp cận được với các nguồn lực bên ngoài. Vì vậy, nhiều thành tựu khoa học chúng ta không tiếp cận được, đến nỗi sản xuất lương thực không đạt được năng suất sản lượng cao (do thiếu/không có phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật đặc hiệu) dẫn đến thiếu lương thực trầm trọng, đói kém diễn ra ở khắp nơi.
Một nguyên nhân nữa mang tính chủ quan là đường lối kinh tế đất nước được vận hành theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hầu như mọi khâu trong nền kinh tế đều do Nhà nước quyết định. Trong khi tiềm lực, cơ sở hạ tầng, năng lực của Nhà nước có hạn, không thể bao quát hết. Thế là nhiều hệ lụy đã diễn ra, mọi người dân đang từ vui mừng tự hào vì thống nhất đất nước lại chùng xuống, lo ngại về cuộc sống đang quá khó khăn và con đường tiếp theo chưa được xác lập rõ ràng.
Từ năm 1979-1989, Việt Nam phải gồng mình chiến đấu bảo vệ biên giới và giúp nước bạn Camphchia dẹp tan bọn diệt chủng Polpot, xây dựng lại quê hương.
Tuy nhiên, chúng ta cũng có những thuận lợi rất cơ bản: Có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản với những quyết sách đúng đắn, hợp thời; Có sự tin tưởng, đồng lòng, chung sức của đại đa số nhân dân, một mặt góp phần đấu tranh chỉ rõ những yếu kém của cơ chế đã lỗi thời, mặt khác sẵn sàng ủng hộ những quyết sách mới, có tính sáng tạo và tính khả thi, hiệu quả cao; Có sự giúp sức hỗ trợ của Liên Xô, các nước XHCN Đông Âu và của nhiều nước khác.
Qua đó, Việt Nam đã tìm được hướng đi mới, cơ chế mới để đưa đất nước ra khỏi sự trì trệ, phát triển kinh tế nhanh, mạnh, nâng cao đời sống nhân dân mà vẫn giữ được định hướng XHCN.
Bệ phóng cho Kỷ nguyên vươn mình
Tiến trình đổi mới đã được tổng kết, trình bày trong nhiều văn kiện của Đảng, trong các công trình nghiên cứu khoa học tầm cỡ quốc gia. Dưới góc độ cá nhân, tôi chỉ xin nêu một số cảm nhận của mình.
Trước hết là đổi mới tư duy, đặc biệt là tư duy phát triển kinh tế. Cơ chế phát triển theo mô hình kinh tế Kế hoạch hóa tập trung đã thu được nhiều kết quả ở miền Bắc trước năm 1975, song mô hình này không còn phù hợp, đặc biệt là không giải phóng được sức dân để phát triển kinh tế. Vấn đề là phải đổi mới tư duy để tìm được cơ chế phát triển kinh tế mới phù hợp hơn và chúng ta đã chuyển đổi được sang nền kinh tế thị trường nhưng theo định hướng XHCN.
Một trong những đổi mới có nhiều băn khoăn nhất là chấp nhận, cho phép hoạt động của kinh tế tư nhân (KTTN) vốn được coi là thành phần kinh tế phải được cải tạo sau 1975. Nhưng vào thời kỳ đổi mới, KTTN được chấp nhận và từng bước đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước.
Đại hội VI (1986) được coi là bước ngoặt tư duy trong nhìn nhận lại vai trò của KTTN. Lần đầu tiên công nhận kinh tế cá thể, tiểu chủ là thành phần kinh tế hiện hữu lâu dài, có vai trò tích cực trong phát triển sản xuất và đời sống nhân dân. Tuy chưa gọi rõ là KTTN, nhưng đây là giai đoạn mở đường cho nhận thức cởi mở hơn về thành phần kinh tế này.
Trong Cương lĩnh năm 1991 (Đại hội VII) của Đảng đã ghi nhận 5 thành phần kinh tế, trong đó có “kinh tế cá thể, tiểu chủ”, và “kinh tế tư bản tư nhân”, bước đầu xác lập vị trí trong cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần. Đến Đại hội IX (2001): Bắt đầu nhìn nhận KTTN là một trong những động lực của nền kinh tế. Các tài liệu tiếp sau như Văn kiện Đại hội Đảng X (2006), Cương lĩnh bổ sung năm 2011, văn kiện Đại hội XII (2016), Nghị quyết số 10-NQ/TW (2017), Đại hội XIII (2021) đã tiếp tục khẳng định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng, cần tạo điều kiện thuận lợi để khu vực này phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng với các thành phần khác.
Một số chủ trương, chính sách không phù hợp đã được gỡ bỏ, như chủ trương ngăn chặn lưu thông hàng hóa ngoài nhà nước (ngăn sông cấm chợ), chủ trương phân phối lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng bằng tem phiếu hay hạn chế người Việt Nam ra nước ngoài và người nước ngoài vào Việt Nam…
Đặc biệt, Đảng đã sớm nhận ra sự khắc nghiệt của việc bị cấm vận, không thể giao dịch, liên hệ, trao đổi với nước ngoài, không thể xuất khẩu hàng hóa, cũng không nhập khẩu được những hàng hóa cần thiết nên Việt Nam đã cố gắng tìm ra cách thức giảm căng thẳng với các nước, trước hết là các nước hàng xóm như Trung Quốc và các nước ASEAN. Một cách tiếp cận ngoại giao khôn ngoan được áp dụng rất hiệu quả nên Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm 1991, đánh dấu một bước quan trọng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam sau nhiều năm căng thẳng. Quan hệ giữa hai quốc gia đã được cải thiện, giúp thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại và phát triển các mối quan hệ song phương lâu dài.
Tiếp đến, Việt Nam được kết nạp làm thành viên chính thức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào ngày 28/7/1995. Trước đó, năm 1994, Hoa Kỳ đã chính thức dỡ bỏ cấm vận Việt Nam và ngày 11/7/1995, Tổng thống Bill Clinton đã công bố “bình thường hóa quan hệ” với Việt Nam, đánh dấu trang mới trong lịch sử quan hệ ngoại giao của hai nước. Thành công trong gia nhập Tổ chức Thương Mại Thế giới WTO đã giúp Việt Nam có thể giao dịch thương mại với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế. Ổn định chính trị, xã hội giúp Việt Nam nhận được nhiều nguồn vốn nước ngoài như vốn ODA, vốn FDI và ngày càng nhiều công ty nước ngoài đã, đang vào Việt Nam làm ăn.
Tính đúng đắn của việc thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN được minh chứng bởi những thành tựu kinh tế nổi bật như: Hàng hóa ngày càng phong phú, cơ sở hạ tầng ngày một hoàn chỉnh, xuất hiện nhiều tỷ phú USD, nhiều công ty Việt Nam có khả năng vươn tầm làm ăn ở nước ngoài… Và, đời sống của nhân dân đã được nâng cao rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 1,93% năm 2024 (theo công bố trong Quyết định số 217/QĐ-BLĐTBXH ngày 04/02/2025). Hầu hết các xã các vùng xa xôi, hải đảo đã có điện lưới hoặc điện mặt trời, điện gió, điện từ tổ máy phát ổn định.
Như vậy, rõ ràng việc đảm bảo, giữ vững an ninh chính trị xã hội, an ninh lương thực, an ninh năng lượng là những yếu tố, thành tựu rất quan trọng để Việt Nam bước sang Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Mục tiêu tương lai xán lạn
Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đã được đưa vào trong các văn kiện của Đại hội XIV của Đảng đi cùng nhiều mục tiêu rất rõ ràng, cụ thể. Đó là đến năm 2030, Việt Nam sẽ là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại và thu nhập trung bình cao, tầm nhìn đến 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, một loạt chính sách của Đảng đã được ban hành trước Đại hội XIV và được thảo luận trong quá trình diễn ra Đại hội để thực hiện trong thời gian tới.
Điển hình là “Bộ tứ trụ cột” bao gồm 4 Nghị quyết: Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị thúc đẩy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; Nghị quyết 59 về chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng; Nghị quyết 68 về phát triển mạnh mẽ khu vực KTTN; Nghị quyết 66 về đổi mới toàn diện công tác xây dựng, thi hành pháp luật sẽ giúp đất nước cất cánh.
Đúng như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Đến thời điểm hiện nay có thể coi 4 Nghị quyết trên là ‘Bộ tứ trụ cột’ để giúp chúng ta cất cánh. Vì vậy, tôi kêu gọi toàn hệ thống chính trị, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân hãy chung tay, đồng lòng, vượt qua mọi khó khăn, biến khát vọng thành hành động, biến tiềm năng thành sức mạnh thực tế, để cùng nhau đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển, thịnh vượng, hùng cường của dân tộc Việt Nam”.
Những công trình mới đang được thiết kế, xây dựng như đường sắt cao tốc Bắc - Nam, điện hạt nhân, đường tàu điện ngầm… sẽ giúp Việt Nam phát triển nhanh, đảm bảo nâng tầm vị thế đất nước.
Tuy nhiên, cả trước đổi mới và suốt 40 năm đổi mới, Việt Nam cũng đã phải đối mặt với nhiều thách thức lớn - cả khách quan lẫn chủ quan. Trước đổi mới là nghèo đói, là di chứng chiến tranh tàn khốc, là thù trong giặc ngoài và cả sự yếu kém nhất định trong cơ chế phát triển đất nước; rồi nạn tham nhũng, biểu hiện tự diễn biến, tự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao, đã làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự điều hành đất nước. Và, đâu đó vẫn còn những thế lực thù địch cả trong và ngoài nước đang ngấm ngầm, công khai chống đối gây không ít khó khăn cho sự phát triển. Điều đó buộc các cấp lãnh đạo phải có giải pháp quyết liệt, kiên quyết hơn nữa để làm thất bại sự phá hoại của các phần tử chống đối này.
Nhân dân Việt Nam rất tin tưởng, hy vọng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Nhà nước và sẽ ủng hộ, cố gắng hết sức mình thực hiện các chính sách, nghị quyết do Đảng và Nhà nước ban hành nhằm thực hiện bằng được mục tiêu cao cả do Đại hội Đảng XIV đã đặt ra.
GS Hoàng Xuân Cơ
Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam














