Thứ sáu, 17/04/2026 08:52 (GMT+7)
Thứ sáu, 17/04/2026 07:15 (GMT+7)

Một vài suy ngẫm về Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn trăm năm (bài cuối)

Theo dõi KTMT trên

Chúng ta lại có một quy hoạch nữa cho Thủ đô Hà Nội, đó là Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (QHHN100).

Một vài suy ngẫm về Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn trăm năm (bài cuối) - Ảnh 1
Một góc Thủ đô Hà Nội. Ảnh: VGP/Thùy Chi.

Về dạng QHHN100

Để viết bài này chúng tôi cố gắng tham khảo các tài liệu nước ngoài về lý thuyết lập QH và đánh giá một QH theo các tiêu chí mang tính quốc tế. May mắn, chúng tôi tìm thấy một bài viết mang tính tổng kết, đánh giá, phân hạng các QH của một số quốc gia trong đó có Việt Nam. Xin nêu ở đây một khía cạnh về nhận dạng một số loại QH trong số các QH mà các tác giả có được và vấn đề thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ có trong các QH này.

Trong số 107 QH phát triển quốc gia thu thập được và sử dụng trong bài viết này không có QH của những nước phát triển cao như Mỹ, Nhật. Anh, Đức,… mà phần lớn là nước thuộc nhóm trung bình và thấp. Vì vậy, những nhận xét trong bài báo ít nhiều tương đồng và có thể áp dụng trong điều kiện Việt Nam, đặc biệt là QH cấp quốc gia, cấp vùng và địa phương lớn như Hà Nội. Nhóm tác giả đã liệt kê, phân loại những đặc điểm chính rút ra từ các QH, so sánh, tìm sự khác biệt của cách tiếp cận, cách huy động nguồn lực cũng như mức độ tin cậy của số liêu,… để phân các QH quốc gia thành 4 nhóm/loại/kiểu như sau:

Loại A – QH/Kế hoạch từ trên xuống, do chuyên gia dẫn dắt, dựa trên bằng chứng vững chắc nhưng khả năng gắn kết xã hội hạn chế. Hơn một phần tư trong số 107 kế hoạch thuộc loại A. Các kế hoạch quốc gia được lập theo cách này thường do các nhóm kỹ thuật trong các bộ kinh tế và tài chính chủ chốt hoặc, trong trường hợp của nhiều quốc gia vùng Vịnh Ba Tư, do các công ty tư vấn toàn cầu dẫn dắt;

Loại B – QH từ dưới lên, được tạo ra một cách hợp tác, dựa trên bằng chứng vững chắc và khả năng gắn kết xã hội cao. Khoảng 42% trong số 107 kế hoạch thuộc nhóm này. Các kế hoạch này liên quan đến việc tạo ra sự đồng thuận xã hội rộng rãi về các giá trị và hành động hướng tới một tương lai được xác định và chia sẻ. Do đó, kế hoạch phát triển quốc gia được xem như một tập hợp các giá trị, hành động và lộ trình đã được thống nhất để đạt được tương lai chung, và quá trình xây dựng sự đồng thuận quốc gia cũng quan trọng như nội dung của chính kế hoạch. Các tài liệu loại B thường được công khai và ở dạng dễ tiếp cận với công chúng;

Loại C – QH từ trên xuống, rời rạc, dựa trên bằng chứng yếu và khả năng gắn kết xã hội hạn chế. Chỉ xác định được 10 kế QH loại này. Các QH Loại C dựa trên tính hợp lý tuyến tính vốn là nền tảng của các kế hoạch Loại A, nhưng chúng thiếu năng lực, rời rạc và sử dụng bằng chứng kém hiệu quả. Bằng chứng từ phân tích nội dung cho thấy QH Loại C được tạo ra trong bối cảnh năng lực nhà nước có phần suy giảm. Những kế hoạch như vậy được thúc đẩy từ trên xuống và thay vì dựa trên bằng chứng, chúng cố gắng bắt chước các yếu tố của kế hoạch từ các quốc gia thành công;

Loại D – QH từ dưới lên, dựa trên bằng chứng yếu và khả năng gắn kết xã hội hạn chế. Các QH phát triển quốc gia thuộc loại D phản ánh các quy trình rộng rãi và có sự tham gia của người dân nhưng lại tạo ra một tầm nhìn được chuyển tải kém hiệu quả,. Khoảng 20% trong số 107 kế hoạch mà chúng tôi đã phân tích thuộc loại này.

Kết quả thống kê cho thấy:

Khoảng 38% các kế hoạch áp dụng phương pháp tuyến tính/từ trên xuống (A hoặc C), so với 62% áp dụng các phương pháp hợp tác hoặc giao tiếp hơn. Điều này cho thấy sự thống trị lịch sử của tư duy tuyến tính trong lý thuyết quy hoạch không còn được tiếp tục trong quy hoạch phát triển quốc gia mới. Ngoài ra, 68% các kế hoạch dựa trên bằng chứng mạnh mẽ và mạch lạc, trong khi 32% dựa trên bằng chứng yếu và/hoặc rời rạc hoặc không mạch lạc. Như vậy, khoảng một phần ba các kế hoạch quốc gia đương đại hoặc là yếu về mặt trí tuệ hoặc chỉ mang tính hình thức.

Mỗi loại này lại được phân tích kỹ, nêu tỷ lệ số QH trong tổng 107 QH và nêu đích danh một số quốc gia tiêu biểu, chẳng hạn, các kế hoạch từ Togo, Trung Quốc và Ả Rập Xê Út là những ví dụ điển hình cho cách tiếp cận loại A; các kế hoạch hiện tại của Uganda và Ghana là những ví dụ của loại B; QH ZIMASSET 2013–18 ban đầu của Zimbabwe là một ví dụ điển hình của các kế hoạch Loại C;  QH của Peru và Venezuela là những ví dụ điển hình thuộc loại D. Chúng tôi không thấy nhóm tác giả nêu Việt Nam thuộc nhóm nào nhưng nếu phân tích kỹ thì tự chúng ta cũng biết kiểu QH của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng thuộc nhóm nào. Có nên làm điều này không vẫn là câu hỏi cần được những nhà/cơ quan lập QH và các phản biện QH trả lời.

Trong bài báo này nêu rất kỹ về lồng ghép các Mục tiêu thiên niên kỷ (được ghi trong bản Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc) trong QH. Tuy bài viết đã dài nhưng chúng tôi vẫn muốn trích dẫn 8 mục tiêu này dưới đây:

1.    “Triệt để loại trừ tình trạng bần cùng (nghèo cùng cực) và thiếu ăn:
•    Trong khoảng thời gian 1990–2015, giảm một nửa tỷ lệ người có thu nhập (tính theo sức mua tương đương PPP năm 1993) dưới 1 USD một ngày.
•    Trong khoảng thời gian 1990–2015, giảm một nửa tỷ lệ người bị thiếu ăn.
•    Tạo việc làm thích hợp và hữu ích cho tất cả mọi người bao gồm cả phụ nữ và thanh niên.

2.    Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học:
•    Đảm bảo rằng đến năm 2015, tất cả trẻ em, không phân biệt trai gái, đều được hoàn tất giáo dục tiểu học.

3.    Nâng cao bình đẳng giới và vị thế, năng lực của phụ nữ:
•    Xóa bỏ tình trạng chênh lệch về giới tính ở giáo dục tiểu học và trung học cơ sở tốt nhất là vào năm 2005 và ở mọi cấp không chậm hơn năm 2015.

4.    Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em:
•    Giảm hai phần ba tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi trong giai đoạn 1990-2015.

5.    Cải thiện sức khỏe sinh sản:
•    Giảm ba phần tư tỷ lệ tử vong ở bà mẹ trong giai đoạn 1990-2015.
•    Đến năm 2015, phổ cập chăm sóc sức khỏe sinh sản.

6.    Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch khác:
•    Chặn đứng và bắt đầu thu hẹp sự lây lan của HIV/AIDS vào năm 2015.
•    Đến năm 2010, mọi đối tượng có nhu cầu đều được điều trị HIV/AIDS.
•    Chặn đứng và bắt đầu giảm tỷ lệ mắc bệnh sốt rét cũng như các bệnh dịch khác vào năm 2015.

7.    Đảm bảo sự bền vững của môi trường:
•    Tích hợp nguyên tắc phát triển bền vững trong các chính sách và chương trình quốc gia; giảm thiểu tổn thất về môi trường.
•    Giảm tổn thất về tính đa dạng sinh học, đến năm 2010 giảm đáng kể tỷ lệ này.
•    Đến năm 2015, giảm một nửa tỷ lệ người không được tiếp cận thường xuyên với nước sạch và hợp vệ sinh.
•    Đến năm 2020, cải thiện đáng kể cuộc sống của ít nhất 100 triệu người đang sống trong nhà ổ chuột.

8.    Tăng cường quan hệ đối tác toàn cầu cho phát triển:
•    Tăng cường hơn nữa hệ thống thương mại và tài chính mở, dựa trên luật lệ, không phân biệt đối xử và có thể dự báo, trong đó có cam kết hướng tới sự quản lý tốt, phát triển và giảm thiểu tình trạng đói nghèo trên phạm vi quốc gia và quốc tế.
•    Đáp ứng nhu cầu đặc biệt của các nước kém phát triển nhất, trong đó có việc đảm bảo khả năng tiếp cận đối với các mặt hàng xuất khẩu của họ trên cơ sở miễn thuế và phi hạn ngạch; tăng cường giảm nợ cho các nước nghèo nợ nần nhiều; xoá các khoản nợ song phương chính thức; và tăng cường hỗ trợ phát triển chính thức cho các nước cam kết xoá đói giảm nghèo
•    Đáp ứng nhu cầu đặc biệt của các nước đang phát triển nằm sâu trong lục địa và các quốc đảo nhỏ đang phát triển.”

Một vài suy ngẫm về Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn trăm năm (bài cuối) - Ảnh 2

Soi vào các QH của Việt Nam thì thấy các mục tiêu này luôn được lồng ghép và cố gắng đạt được khi thực hiện QH. Trong thực tế, Việt Nam đã thực hiện xóa đói, giảm nghèo, đầu tư giáo dục y tế, cơ sở hạ tầng cho đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa được Thế giới công nhận. Ngay trong QHHN100, mặc dù hộ đói nghèo và người thuộc dân tộc thiểu số ở Hà Nội còn rất ít nhưng vấn đề xóa đói giảm nghèo vẫn được đề cập đến trong phần hiện trạng: “Thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng sinh kế và từng bước nâng cao thu nhập của các hộ nghèo, cận nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm ổn định đời sống lâu dài cho người dân.”

Nhiều giải pháp cụ thể như chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông rà soát, bổ sung hạ tầng trạm 4G, 5G tại các khu vực vùng sâu, vùng xa, khu vực lõm sóng trên địa bàn Thành phố đảm bảo mục tiêu phủ sóng 99% dân số và triển khai thử nghiệm mạng 6G từ năm 2030 hay thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng sinh kế và từng bước nâng cao thu nhập của các hộ nghèo, cận nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm ổn định đời sống lâu dài cho người dân đã và đang được thực thi đạt kết quả tốt.

Có lẽ, đây là điểm rất sáng mà các QH của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng có được, cần phát huy, đồng thời nó cũng cho thấy rõ mặt tích cực của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà Việt Nam đang thực hiện.

Về vinh danh người làm quy hoạch

Một vài suy ngẫm về Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn trăm năm (bài cuối) - Ảnh 3

Phần trên (đã khá dài) là những nhận biết và một số nhận xét của chúng tôi về QH Thủ đô Hà Nội với 3 QH sẽ được thực hiện cùng lúc ít nhất là đến 2050. Bản thân tôi cũng đã cố gắng suy ngẫm, tìm hiểu để hiểu hơn về một QH phát triển cho một vùng lãnh thổ theo định hướng QH thật chất lượng để thực hiện tốt sau đó.

Nói đến lập QH là nói đến việc dự báo, hình dung những gì sẽ được thực hiện và bộ mặt, viễn cảnh tương lai của vùng lãnh thổ QH sẽ như thế nào. Hơn thế nữa, ngoài đặt ra mục tiêu cần đạt được, QH còn định hướng cho việc lập các kế hoạch thực hiện bao gồm huy động nguồn lực, xây dựng chương trình, dự án thực hiên.

Có một điều mà tôi luôn muốn hiểu càng cặn kẽ càng tốt nhưng càng tìm hiểu càng thấy quá sức, đó là dựa vào đâu, vào cơ sở lý luận nào, vào những gì để có thể lập được QH, chỉ ra những viễn cảnh tươi đẹp trong tương lai. Và, một câu hỏi nữa là ai, những ai là người có thể tham gia lập ra những bản QH tuyệt vời như vậy. Qua những lần chuyện trò với các Thầy dạy mình và các bạn, đồng nghiệp (cả trong và ngoài nước) tôi mới dần dần tự trả lời cho mình một cách đơn giản nhất, không biết có đúng không nữa.

Một thày giáo người Đức dạy lớp tôi về đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) đã giải thích rằng, những gì con người đã làm được trước đó là gợi ý, là động lực cho việc QH. Đó là: những thành phố cổ, những lâu đài, những công trình vĩ đại, những kỳ quan Thế giới có từ thời cổ đại cùng những những công trình đồ sộ sau này như Vạn lý trường thành ở Trung Quốc, khu Kim tự tháp Ai Cập, đường hầm eo biển Manche nối nước Pháp và nước Anh, Kênh đào Panama,…và, dễ thấy nhất là những thành phố lớn quy mô dân số hàng chục triệu người với những tòa nhà chọc trời, những cây cầu rất dài vượt sông, vươn ra biển. Đây là những gì con người đã làm được thì việc nghiên cứu chúng, tìm hiểu các vật liệu, công nghệ, kỹ thuật đã được sử dụng sẽ giúp áp dụng trong việc lập và thực hiện QH. Rất nhiều tài liệu, tư liệu, kể cả về những người đóng vai trò quyết định xây dựng, những công nghệ, kỹ thuật, vật liệu sử dụng trong các công trình này được lưu truyền, lưu trữ cho chúng ta hôm nay tham khảo. Đó thật sự là nguồn vốn quý giá mà những người lập và thực hiện QH phải cố gắng tìm hiểu, nắm bắt và học tập, áp dụng.

Ngay ở Việt Nam, những công trình lớn ở Hà Nội, cố đô Huế và nhiều nơi khác cũng rất to lớn, đẹp như Thành Cổ Loa, Thành Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội, Thành Tây Đô (Thành nhà Hồ), Dinh chúa Nguyễn, Kinh thành Huế hay còn gọi là Cố cung Huế, Văn Miếu Quốc Tử Giám, các tháp Chăm,… Đặc biệt, những công trình xây dựng gần đây, kể cả công trình do các doanh nghiệp tư nhân đầu tư xây dựng đã chứng tỏ trình độ của các nhà thiết kế, thi công, xây dựng của Việt Nam đã được nâng cao. Vì vậy, chúng ta có thể tin rằng, các công trình hạ tầng trong các QH đã nêu sẽ được thực hiện và chúng ta sẽ có hệ thống tàu điện ngầm cùng nhiều công trình đồ sộ khác ở Thủ đô Hà Nội.

Nhiều công trình kiến trúc xây dựng gắn liền với tên tuổi người thiết kế và thực hiện. Tất nhiên, họ không thể làm một mình mà phải huy động được nhiều nguồn lực khác nhau để hoàn thành. Thậm chí, một số công trình như Vạn lý trường thành còn gắn liền với tên tuổi một ông vua được coi là tàn bạo (đại đế Tần Thủy Hoàng) cùng với hàng vạn sinh linh đã bỏ xác để xây dựng nên. Cho dù thế nào, những công trình lớn như vậy phải do một người nào đó đứng tên chịu trách nhiệm và tiếng tăm của họ còn lưu truyền về sau.

Tôi đọc các QH và cũng tò mò muốn biết những ai/cá nhân nào đứng tên chính lập nên. Trong các văn bản QH phải liệt kê được những người chịu trách nhiệm chính, có thể coi là tổng công trình sư và nhóm chuyên gia soạn thảo. Họ vừa xứng đáng được vinh danh và cũng vừa chịu trách nhiệm về chất lượng QH. Chỉ có như vậy, những người tham gia soạn thảo văn bản QH mới dồn hết tâm trí, sức lực để hoàn thành công việc được giao. Không hiểu vì sao văn bản này ở Việt Nam chỉ ghi cơ quan soạn thảo QH có xác nhận của cơ quan này là đủ, có lẽ người chịu trách nhiệm chính là người đứng tên ký quyết định phê duyệt QH chăng. Nhưng, những gì đưa ra trong QH lại do một người đứng đầu nhóm chuyên gia và các chuyên gia thực hiện nên thiết nghĩ họ phải được ghi thành danh sách trong văn bản QH.

Tôi có đọc được một bài viết có tiêu đề Lật lại hồ sơ: Cầu Long Biên và những thông tin cần đính chính đăng trên trang mạng của Trung tâm Lưu trữ quốc gia I ngày 28/12/2022 (https://archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/lat-lai-ho-so-cau-long-bien-va-nhung-thong-tin-can-dinh-chinh.htm) và rất khâm phục việc chính quyền Pháp xây dựng cầu Long Biên nối 2 bờ sông Hồng. Bài báo sử dụng tài liệu lưu trữ ở trung tâm này nên có độ tin cậy cao. Theo tài liệu này thì mục đích xây dựng cây cầu này cùng tuyến đường sắt hà Nội lên biên giới Việt - Trung là nhằm phục vụ chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất ở Việt Nam cũng như đàn áp các phong trào đấu tranh chống Pháp của người dân Bắc Kỳ.

Tuy nhiên, cái chúng tôi quan tâm ở đây là quá trình hình thành ý tưởng, quá trình chọn nhà thầu thiết kế, xây dựng và quá trình xây dựng được tiến hành rất bài bản. Ban đầu, ý tưởng xây một cây cầu lớn bằng thép bắc qua sông Hồng của Toàn quyền Paul Doumer đã gây nhiều tranh cãi và không nhận được sự đồng tình ủng hộ của nhiều người nhưng vì lợi ích mà nó sẽ đưa lại trong tương lai, ngày 4-6-1897, chính quyền thuộc địa đã quyết định chính thức hoá ý tưởng đó bằng một dự án lớn. Và 5 tháng sau (11-1897), các thủ tục đấu thầu đã được tiến hành. Có tới 6 nhà thầu tham gia với 8 dự án được trình nên một Hội đồng thẩm định gồm 6 thành viên, do Thống sứ Bắc Kỳ làm Chủ tịch và một Tiểu ban Kỹ thuật, gồm 4 trong số 6 thành viên của Hội đồng Thẩm định được thành lập.

Sau khi phân tích mọi yếu tố kỹ thuật, Tiểu ban này đã đi sâu nhận xét, so sánh giữa các dự án và cuối cùng đã kết luận rằng toàn bộ công trình mà dự án B của nhà thầu Daydé & Pillé đề xuất là tốt hơn cả. Chính vì vậy, mặc dù kinh phí dự án của Daydé & Pillé cao hơn của Levallois Perret trên 3000 frs (frs – franc – tiền Pháp) nhưng cuối cùng, ngày 30-12-1897, Tiểu ban Kỹ thuật của Hội đồng xét thầu đã quyết định đề nghị Toàn quyền Đông Dương chọn dự án của Daydé & Pillé có sửa đổi một vài chi tiết kỹ thuật. Công ty Daydé & Pillé đã uỷ nhiệm cho kỹ sư Saint Fort Mortier làm chỉ huy công trình xây dựng cầu và làm đại diện chính thức của Công ty tại Bắc Kỳ.

Tìm hiểu thêm chúng tôi biết Công ty Daydé et Pillé được thành lập vào năm 1882 bởi ông Henry Daydé, một kỹ sư bách nghệ và Auguste Pillé, cháu trai ông. Từ những tài liệu như vậy, có thể nêu tên 3 người/công ty có công chính trong xây dựng cầu Long Biên, đó là Toàn quyền Paul Doumer, Công ty Daydé et Pillé và kỹ sư Saint Fort Mortier. Tôi cũng cảm thấy buồn vì thông tin của chúng ta đôi khi rất thiếu chính xác do khó tiếp cận thông tin gốc mà thông tin thiếu chính xác lại lan truyền nhanh, chẳng hạn thông tin người thiết kế, xây cầu Long Biên được truyền thông trước đó (có cả chương trình VTV sử dụng) cho là tác giả tháp mang tên Ông: Gustave Eiffel.

Được sống nhiều năm trong thời kỳ bao cấp, chúng tôi đã quá quen với việc không quá đề cao cá nhân mà coi các thành công là của tập thể. Có lẽ chỉ có một số chiến dịch, chiến công quân sự mới gắn với tên của một số người chỉ huy, chẳng hạn như Chiến dịch Đường số 4 (nối Lạng Sơn và Cao Bằng) gắn với tên Cụ Đặng Văn Việt, được coi là "Hùm xám Đường số 4" hay Chiến dịch Điện Biên phủ gắn với tên tuổi Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Hiện nay Việt Nam đã có nền Kinh tế Thị trường định hướng XHCN thì cũng nên vinh danh hay ít ra cũng ghi tên những người có công xây dựng những QH, những công trình lớn để mai sau con cháu được biết.

Qua ví dụ về xây cầu Long Biên và xem lại lý thuyết QH (nên/phải có QH thay thế), chúng tôi thấy ở Việt Nam chỉ giao cho một cơ quan hoặc một liên danh thực hiện lập QH, không có đấu thầu để có thêm các bản QH khác và QH cũng chỉ được thẩm định để thực hiện chứ không có thẩm định để lựa chon QH. Cũng có thể hiện nay chưa có được những nhà thầu lập QH tầm cỡ chăng. Tuy nhiên, trong một số QH chúng ta đã mời được một số chuyên gia, cơ quan quốc tế tham gia, đặc biệt, QHHN100 có tới 4/6 đơn vị là của nước ngoài hoặc có yếu tố nước ngoài. Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn muốn biết rõ danh tính của những người thật sự tham gia vào lập QH này.

Một vài suy ngẫm về Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn trăm năm (bài cuối) - Ảnh 4

Về nguồn số liêu phục soạn thảo và thực hiện QH

Một điểm nữa cũng rất cần được làm rõ là những loại tài liệu, số liệu gì cần cho lập và thực hiện QH. Quả thật, để lập được QH tốt cần nhiều loại tài liệu, số liệu về nguồn lực, số liệu về tài nguyên, môi trường, số liệu về hiện trạng nền kinh tế, về cơ sở hạ tầng, về tình hình quốc tế và khu vực,… Việc khai thác, xử lý số liệu cũng rất quan trọng. Ở những quốc gia đã có cơ sở dữ liệu tốt về tất cả lĩnh vực nêu trên thì việc huy động chúng phục vụ lập QH và thực hiện QH sẽ dễ dàng hơn.

Thực ra, để đánh giá chất lượng của một QH cũng có thể dựa vào đánh giá chất lượng nguồn số liệu thu được và xử lý. Tôi nhớ lại về ý kiến của một chuyên gia QH người Đức sau khi được tôi trình bày kết quả thực hiện báo cáo ĐMC của Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 vào năm 2010. Khi chuyên gia hỏi tôi về cơ sở dữ liệu (CSDL) dùng để lập báo cáo ĐMC, tôi chỉ đưa ra được một số tài liệu thu thập được chứ không có CSDL. Thấy vậy, chuyên gia đã chỉ ra cho tôi biết về ý nghĩa của CSDL cần cho lập QH và cho ĐMC của QH. Theo đó số liệu phải được xử lý và trình bày theo từng ô lưới QH để khi cần ai cũng có thể vào để tham khảo, sử dụng các số liệu. Chuyên gia cho rằng, đựa trên quy mô diện tích vùng QH mà quyết định kích thước và số lượng ô lưới trên bản đồ rồi tính toán đưa CSDL có cho từng ô lưới. Gần như đây là yêu cầu bắt buộc ở Cộng hòa Liên bang Đức. Chuyên gia còn lấy một ví dụ minh họa rất thực tế là đầu tư xây dựng một khu đô thị ở Hòa Lạc có phần khác với ở Phú Xuyên vì điều kiện địa chất và địa tầng khác nhau. Vì vậy, khi nhà đầu tư muốn xây dựng ở Hòa Lạc, họ chỉ cần vào ô lưới QH vùng Hòa Lạc họ sẽ biết cơ sở địa chất, địa tầng để thiết kế xây dựng cho phù hợp.

Một trong những số liệu cần thiết để xây dựng tiêu chí/mục tiêu QH, đó là nguồn lưc/tài nguyên/tài sản hiện có của cả một quốc gia hoặc một khu vực nhỏ hơn. Đặc biệt, Ngân hàng Thế giới đã đưa ra các khái niệm như Tổng tài sản (Total Wealth) với các thành phần: Vốn sản xuất (Produced Capital), Vốn con người (Human Capital), Vốn tài nguyên tái tạo (Renewable natural Capital), Vốn tài nguyên không tái tạo (Nonrenewable natural capital) và Tài sản nước ngoài ròng (Net foreign assets). Nhóm nghiên cứu của WB đã đưa ra phương pháp tính (mô hình, công thức) và áp dụng tính tất cả các yếu tố trên theo đơn vị tiền tệ trên đầu người (USD/người) cho tất cả quốc gia mà họ thu thập được số liệu đầu vào.

Chúng tôi đã có nghiên cứu về các nguồn vốn này, đã áp dụng tính thử cho Hà Nội (đã được đưa vào báo cáo ĐMC do Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thực hiện), Thanh Hóa và Quảng Trị (cũ) từ gần 20 năm về trước và cũng đã viết một bài báo đăng trên Tạp chí Kinh tế Môi trường với tiêu đề Nhận dạng tổng mức giàu có của Việt Nam đăng 3 kỳ vào các ngày10, 11, 12 tháng 8 năm 2021. Mục đích viết bài của tôi chỉ là giới thiệu về một số yếu tố về tài sản quốc gia được WB đưa ra và có phương tính toán cho các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Đồng thời kêu gọi các nhà khoa học Kinh tế nghiên cứu tính toán cho Việt Nam và nếu có thể sử dụng thì cần liên tục áp dụng. Mới đây, WB cũng đã tính toán và công bố kết quả tính toán Tổng tài sản và các vốn tài nguyên cho các nước, trong đó có Việt Nam. Quả thật, kết quả tính toán của WB cho Việt Nam rất đáng được nghiên cứu, xem xét và có thể sử dụng trong việc lập và thực hiện QH. Tuy nhiên cách tính Tổng tài sản của WB cũng có nhiều thay đổi nên phải luôn cập nhật mới hiểu được ý nghĩa các kết quả đưa ra.

Chúng tôi nhận thấy trong báo cáo của WB xuất bản năm 2021 thì Tổng tài sản có thêm các thành phần mới như Vốn rừng ngập mặn (Mangroves), Vốn tài nguyên thủy sản (Fisheries), Vốn Dịch vụ sinh thái (Ecosystem services). Tuy nhiên, rất mừng là Tổng tài sản của Việt Nam tăng khá nhanh, từ 9.374 USD/người năm 2005 đến 27.368 USD/người năm 2014 năm 2014 và 34.084 USD/người năm 2018. Đáng mừng hơn nữa là sự tăng rất nhanh của Vốn con người, từ  4.196 USD/người năm 2005 (lúc đó có tên là Vốn vô hình) chiếm 44,8% Tổng tài sản, đến năm 2014 đạt 13.740 USD/người, chiếm 50,2% và đến 2018 đã đạt 22.870 USD/người, chiếm tới 67,% Tổng tài sản. Vì vậy, cần phải làm rõ hơn cách tính và cách sử dụng các con số này ở Việt Nam để chúng ta làm chủ việc tính toán và có thể phân tích sử dụng trong hoạch định chính sách phát triển nói chung và lập, thực hiện QH nói riêng.

Một vài suy ngẫm về Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn trăm năm (bài cuối) - Ảnh 5

Về một số vấn đề dư luận đang quan tâm về thực hiện QH

Những ngày qua đã có nhiều bài viết của các báo, tạp chí và cả nền tảng mạng khác (đặc biệt là facebook) mà tôi cho là những ý kến đóng góp, ý kiến phản biện mà bằng mọi cách các cơ quan cần tham khảo. Sau khi HĐND TP Hà Nội khóa XVII đã biểu quyết thông qua Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm tại kỳ họp thứ nhất, chiều 28/3 chúng tôi rất hy vọng các góp ý, phản biện đó đã được tham khảo. Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn trình bày một số vấn đề dư luận quan tâm thông qua các bài viết gần đây liên quan đến thực hiện các QHHN.

Vấn đề phân bố lại dân cư và các cơ quan/tổ chức

Tra từ khóa “di dời” trong Thuyết minh QHHN100 chúng tôi nhận đươc 98 lần sử dụng từ này với định hướng di dời cơ sở sản xuất, trường đại học, bệnh viện, các cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi nội đô, di dời cư dân sống trong vùng nguy hiểm, sống trong chung cư đã xuống cấp nghiêm trọng,… Tra từ khóa “di dân” chỉ có 7 lần xuất hiện và từ khóa “giãn dân” chỉ có 9 lần xuất hiện trong QHHN100.

Có lẽ di dời các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở y tế và gián dân/di dân đến các vùng đô thị mới QH, đô thị vệ tinh được nhiều người dân Hà Nội và của cả nước quan tâm. Thật ra, ý tưởng xây dựng đô thị vệ tinh kèm chức năng quy tụ các trường đại học, cơ sở y tế, cơ sở NCKH lớn đã có từ các QH trước đó nhưng đến QHHN100 đã được nhấn mạnh hơn. Theo nhận xét trong Thuyết minh QHHN100 thì: “Công tác dự báo dân số trong quy hoạch được duyệt chưa phù hợp với tình hình thực tế, chưa thống nhất, đồng bộ trong hệ thống quy hoạch. Việc thực hiện các nội dung quy hoạch về di dời cơ sở sản xuất, trường đại học, bệnh viện ra khỏi nội đô và xây dựng các đô thị vệ tinh còn rất chậm”.

Vì vậy trong QHHN100 đã đề xuất:

•    “Định hướng phát triển quy hoạch mạng lưới các trường đại học, trung học cơ sở, dạy nghề và các cấp cơ sở; di dời một số trường đại học ra các khu đô thị phía Tây và phía Bắc Thành phố để giảm tải nội đô. Khu Đại học Quốc gia Hòa Lạc sẽ là hạt nhân.
•    Phát triển các khu đô thị mới tại Hoài Đức, Đan Phượng; bảo tồn và phát huy giá trị Thành cổ Sơn Tây, Làng cổ Đường Lâm; hình thành các cụm trường đại học, cao đẳng di dời từ nội đô.
•    Hình thành các cụm không gian chức năng: Trường Đại học; khu công nghệ cao; Khu trung tâm y tế tập trung; Khu đô thị sinh thái. Phát triển không gian các khu, cụm đại học tập trung nhằm cụ thể hóa chương trình di dời trường học từ trong nội đô ra ngoại thành với khu vực Xuân Mai là hạt nhân phát triển.”

Quả thật, việc di dời một đơn vị lớn ra khỏi nội đô không dễ dàng và phải chuẩn bị tốt điều kiện để có thể di dời thành công. Ngay trong QHHN100 cũng nhận thấy điều này: “Từ thực tế triển khai cho thấy mô hình phát triển đô thị vệ tinh cho Hà Nội cần phải xem lại cách thức áp dụng, phương án di dời các cơ sở giáo dục, y tế, dịch vụ, sản xuất từ trong nội đô ra các đô thị vệ tinh cần phải xem lại phương án thực hiện, hạ tầng kết nối từ đô thị trung tâm ra các đô thị vệ tinh không được đầu tư, nguồn lực phát triển cho các đô thị vệ tinh không có, thiếu các cơ chế chính sách hỗ trợ để phát triển các đô thị vệ tinh, thị trấn sinh thái.”

Thực tế Hà Nội đã dành quỹ đất khá lớn xây dựng Đại học Quốc gia Hà Nội trên Hòa Lạc và một số đơn vị, bộ phận của ĐHQG HN đã lên đây, kể cả Ban Giám đốc nhưng hiện tại, hai trường đại học lớn nhất là Đại học Khoa học Tự nhiên và Đại học Xã hội và Nhân văn vẫn còn hoạt động chủ yếu ở nội đô Hà Nội.

Vấn đề di dời các trường đại học, cơ sở NCKH, cơ sở y tế lớn ra khỏi khu vực nội đô hiện nay cũng được một số nhà báo, nhà khoa học nhận xét, đánh giá về tính khả thi và những điều kiện thiết yếu để công việc di dời thành công, hoạt động của các đơn vị này không bị ảnh hưởng tiêu cực.

Bài báo của tác giả Nguyễn Phước Thắng, một chuyên gia chuyển đổi số và phát triển bền vững, giảng viên Khoa Kinh doanh và Logistics, Trường Đại học Hòa Bình đăng trên Vietnamnet.vn ngày 28/03/2026 là một bài phân tích khá sâu sắc về vấn đề này. Bài báo có tiêu đề: Di dời đại học khỏi nội đô Hà Nội: Khi không gian rộng không làm nên tinh hoa đã chỉ ra Nghịch lý từ những "ốc đảo" học thuật qua các thực tế đã xảy ra ở nhiều quốc gia như Nhật Bản với bài học về quyết định dời Đại học Giáo dục Tokyo (sau là Đại học Tsukuba) cùng 45 viện nghiên cứu ra vùng ngoại ô cách thủ đô khoảng 50-60km để lập nên Thành phố khoa học Tsukuba trong thập niên 1960. Thành phố này đã đóng góp nhiều kỳ tích trong khoa học, kinh tế, thế nhưng do “ việc thiết kế đô thị quá cứng nhắc, chia theo công năng mà vắng bóng sức sống của đường phố truyền thống (như quán xá nhỏ lẻ, không gian giao tiếp phi chính thức) đã gây ra cú sốc tâm lý nặng nề cho cư dân ở đây”. Thậm chí đến “đầu thập niên 1980, giới y khoa đã ghi nhận "Hội chứng Tsukuba" về tình trạng sinh viên và nhà nghiên cứu rơi vào trầm cảm, cô lập xã hội do bị tách rời khỏi đời sống nhộn nhịp của thủ đô. Trường rất chật vật, không tuyển được sinh viên giỏi suốt ba thập kỷ vì thiếu tàu cao tốc kết nối. Mọi chuyện chỉ được cứu vãn vào năm 2005 khi tuyến tàu Tsukuba Express đi vào hoạt động, cùng với các trung tâm thương mại và cuộc sống xã hội đô thị trở lại”.

Các quốc gia như Hàn Quốc, Pháp cũng gặp những tình huống tương tự nên có thể coi ví dụ nêu trên ở Nhật Bản là tương đối phổ biến và là bài học suy ngẫm khi quyết định di dời các cơ sở, cơ quan ra khỏi nội đô Hà Nội. Bài báo này cũng nêu kinh nghiệm của một số quốc gia như Mỹ, Đức, Singapore khi họ giữ lại nhiều trường đại học, viên nghiên cứu nổi tiếng, giàu tính lịch sử ở vùng nội đô, nơi có thể mang lại lợi thế tuyệt đối để xây dựng mạng lưới liên quan tới học thuật, thực hành và sống đời sống đô thị. Tác giả Nguyễn Phước Thắng cũng đã tổng kết và nêu ra những bài học để Hà Nội thực hiện việc di dời theo QH đạt kết quả tốt nhất.

Về di dân, QHHN100 đã đưa ra định hướng:

•    “Người dân thuộc diện giải tỏa, di dời một phần được bố trí tái định cư tại chỗ, một phần tại các Khu đô thị mới ở các cực tăng trưởng (Đông Anh, Gia Lâm, Hòa Lạc...) được đầu tư xây dựng đồng bộ, hiện đại, đầy đủ tiện ích (trường học, bệnh viện, công viên), đảm bảo chất lượng cuộc sống tốt hơn nơi ở cũ.
•    Khuyến khích người dân di dời ra các Khu đô thị mới đồng bộ, hiện đại ở ngoại thành (Đông Anh, Gia Lâm) thông qua cơ chế hỗ trợ hấp dẫn (hệ số đền bù k=1 – 2 lần).
•    Nghiên cứu bổ sung trong quy hoạch định hướng giải quyết việc tái thiết đô thị, cải tạo đô thị, phương án quy hoạch cho việc cải tạo, xây dựng lại các khu chung cư cũ (giải pháp về dân số, di dân khỏi nội đô, tái định cư ra các khu đô thị mới đồng bộ hiện đại,…) đồng bộ với đề xuất cơ chế chính sách mới, mạnh mẽ (như các dự án BT lớn, trọng điểm của Thành phố).
•    Thực hiện chủ trương giãn dân để giảm tải áp lực cho nội đô. 
•    Người dân thuộc diện giải tỏa, di dời một phần được bố trí tái định cư tại chỗ, một phần tại các Khu đô thị mới ở các cực tăng trưởng (Đông Anh, Gia Lâm, Hòa Lạc...) được đầu tư xây dựng đồng bộ, hiện đại, đầy đủ tiện ích (trường học, bệnh viện, công viên), đảm bảo chất lượng cuộc sống tốt hơn nơi ở cũ.”

Tham khảo các bài viết đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng, cả báo nói, báo hình và báo điện tử chúng tôi nhận được con số 860.000 cư dân sẽ di dời khỏi nội đô theo QHHN100. Tuy nhiên, tra từ khóa có con số này trên bản Thuyết minh QHHN100 (bản PDF) thì không thấy xuất hiện, có thể là từ nguồn khác nên chúng tôi rất muốn tìm hiểu thêm văn bản gốc ghi các con số này. Ngay trong bài báo cũng của tác giả Nguyễn Phước Thắng đăng trên Vietnamnet.vn ngày 31/01/2026 con số này còn đi kèm với các con số di dân cụ thể của các vùng như di dời 200.000 dân khu vực sông Hồng, 200.000 dân khu vực Hồ Tây và vùng phụ cận, 26.730 dân khu vực phố cổ, 23.000 dân khu vực phố cũ,…

Và rồi, chúng tôi tìm được các bài viết đăng lại phát biểu của Giám đốc Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội Nguyễn Trọng Kỳ Anh "đính chính" thông tin về việc di dời hơn 860.000 dân trong khu vực nội đô được dư luận nêu ra thời gian qua: "Xin khẳng định rằng chưa một lần nào cơ quan chức năng của thành phố công bố số liệu này. Đây là thông tin không chính xác”. Như vậy là đã rõ, con số này có thể nhận được qua kênh thông tin không chính thống nhưng vẫn được đăng trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng, trong đó có cả trang tin mang tính chính thống thì quả thật đã gây ra những hệ lụy không đáng có. Trước hết, thông tin này gây hoang mang cho nhiều người dân đang sống hợp pháp trong các khu vực được quy hoạch di dời, thậm chí còn có ý định bán/chuyển  nhà trước để tránh bị di dời. Tôi thiết nghĩ các tác giả bài viết nên tham khảo các văn bản gốc, chính thống để không xảy ra những sai lệch như vậy.

Cũng đã có nhiều bài viết liên quan đến những hệ lụy phát sinh khi di dân ra các khu đô thị mới. Bản thân tôi khi sang học một khóa học do UNEP và UNESCO mở tại Đại học kỹ thuật Dresden, Công hòa Liên Bang Đức năm 1991 về Quản lý môi trường cho các nước đang phát triển chúng tôi đã được các Thầy giáo dẫn ra khu đô thị được xây dựng để giãn dân nội đô Dresden (cách Dresden khoảng 15-20km) nhưng 10 năm sau dân vẫn không ra ở. Mặc dù khu đô thị này có đủ cơ sở hạ tầng như trường học, bệnh viện, siêu thị,… nhưng có lẽ vẫn thiếu cơ hội làm ăn, thiếu không khí đô thị, thiếu cái đa dạng của cuộc sống, thiếu nhịp sống thân quen nên chỉ một số người ra mua nhà và ban đêm về ngủ.

Một vài suy ngẫm về Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn trăm năm (bài cuối) - Ảnh 6

Vấn đề cải thiện môi trường, phòng chống ngập lụt

Có lẽ hai vấn đề trên là hai vấn đề thuộc loại nan giải và người dân cũng rất trông mong sẽ được giải quyết khi thực hiện các QH Hà Nội. Tham khảo trên mạng chúng tôi thấy có nhiều bài viết liên quan tới vấn đề vẫn gây bức xúc dư luận như ô nhiễm không khí, vấn đề ô nhiễm nước sông hồ nội đô, vấn đề xử lý chất thải rắn, vấn đề ngập úng đô thị,… Chúng tôi cho rằng, để giải quyết vấn đề này phải hình thành những dự án lớn mang tính chuyên ngành và tập trung đầu tư cả kinh phí, nhân lực, công nghệ và phải huy động được các nhà khoa học chuyên ngành vào cuộc. Nếu có thể phải đặt ra mục tiêu dưới dạng đấu thầu được và kêu gọi các cơ quan cả trong và ngoài nước cả tư nhân tham gia đấu thầu thì tính khả thi mới cao.

Kinh nghiệm cho thấy, cung cách đấu thầu của Việt Nam còn nhiều hạn chế, các cơ quan không dễ tham gia vào cuộc nên chắc không có cơ sở tư nhân hay cơ sở nước ngoài nào muốn/dám đấu thầu trong thời gian từ nay đến 2030. Nếu chuẩn bị tốt thì nên soạn thảo các dự án này để đấu thầu từ nay đến 2030 và bắt đầu thực hiện từ năm 2031 để có kết quả vào các thời điểm QH: 2035, 2045, 2050, 2065.

Về số hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu

Đây phải được coi là điểm cốt lõi phải được bắt tay thực hiện ngay để đến năm 2030 Việt Nam có được những cơ sở dữ liệu (CSDL) đảm bảo cập nhật được, trích rút được từng năm (hoặc thời điểm cần). Thật ra, hiểu một cách đơn giản thì số hóa là quá trình mã hóa các yếu tố thành con số, có thể dễ dàng lưu giữ, cập nhật, truy cập. Ví dụ số căn cước một công dân đã tích hợp được nhiều thông tin, yếu tố cơ bản về người đó để khi “mở” con số này ra thì họ tên, ngày sinh, quê quán,…và sau này cả bảo hiểm tế cùng nhiều thông tin khác sẽ được tích hợp vào.

Chúng ta hẵn còn nhớ câu thành ngữ “rừng vàng biển bạc” được Bác Hồ trích trong Bài nói chuyện tại Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa 3 ngày 16/4/1962. Bác cũng từng giải thích cụ thể hơn về câu thành ngữ này nhiều lần hàm ý khai thác đúng mức và bảo vệ rừng, biển, ví dụ: “Rừng là vàng, nếu mình biết bảo vệ, xây dựng thì rừng rất quý”.

Tuy nhiên, ở đây chúng tôi muốn biết “vàng”, “bạc”. “phì nhiêu” ở đây có thể mã hóa thành con số (số hóa) được hay không. Với những gì WB tính toán thì tài nguyên rừng có thể mã hóa thành tài vốn nguyên gỗ, tài nguyên rừng phi gỗ, tài nguyên rừng ngập mặn, tài nguyên khu bảo tồn rồi cả dịch vụ hệ sinh thái rừng và tất cả chúng được tính ra con số với đơn vị USD trên đầu người. Ví dụ: tính cho năm 2018 thì Việt Nam có vốn tài nguyên gỗ là 962 USD/người, vốn tài nguyên rừng ngập mặn là 1.233 USD/người, tài nguyên khu bảo tồn (chủ yếu là rừng) là 90 USD/người và vốn dịch vụ hệ sinh thái rừng là 308 USD/người. Các con số này có thể cập nhật, tính lại cho các năm sau để xem diễn biễn của chúng theo xu hướng nào để tìm cách bảo vệ, cải thiện và nếu liên tục được tính toán thì kết quả tính toán và các số liệu đầu vào, cần cho tính toán sẽ được lưu giữ thành CSDL đáng quý. Liệu chúng ta có nên làm như vậy không vẫn còn là câu hỏi bỏ ngỏ.

Hay, ta cứ nói giao thông Hà Nội là thủ phạm của ô nhiễm không khí thì phải có con số về mức phát thải từ hoạt động xe máy, của xe con, của xe buýt, của xe tải hoạt động trên địa bàn là bao nhiêu tấn một năm. Để có con số này chúng ta phải có những đợt, những “chiến dịch” kiểm kê khí thải bài bản để hình thành CSDL khí thải và làm tương tự chúng ta sẽ có CSDL nước thải, chất thải rắn của Hà Nội.

Hay, chúng ta nói ô nhiễm không khí đã gây nguy hại cho sức khỏe con người, gây tử vong sớm, làm giảm khả năng lao động, thời gian lao động nhưng liệu có “số hóa” cúng thành con số cụ thể không. Nếu chúng ta muốn làm có thể tham khảo hoặc mời chuyên gia của Ngân hàng Thế giới WB sang tư vấn giúp đỡ để tính được tổn thất do ô nhiễm không khí gây nên. Chúng tôi không rõ WB có nhận được số liệu Việt Nam cung cấp không nhưng WB vẫn tính được tổng chi phí do ô nhiễm không khí (the cost of air pollution) cho Việt Nam một số năm (1990, 2013). Ví dụ, năm 2013 tổng thiệt hại về phúc lợi (Total welfare losses) của Việt Nam là 23,832 tỷ đô la Mỹ năm 2011 (đã điều chỉnh theo sức mua tương đương) chiếm 5,18% GDP.

Ở Hà Nội cũng đã có một số nhóm ước tính được số ca tử vong sớm do phơi nhiễm PM2,5 quá mức, chẵng hạn, vào năm 2019 con số này là 6.726 ca theo tài liệu Báo cáo hiện trạng bụi PM2,5 và tác động sức khỏe tại Việt Nam năm 2021 được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Y tế Công cộng và nhóm Khoa học Công dân - Môi trường tại Trung tâm Sống và học tập vì Môi trường và Cộng đồng, dưới sự cố vấn và hợp tác của các chuyên gia trong và ngoài nước.

Như vậy, khái quát lại, những gì hiện đang còn ở mức định tính thì phải tìm các định lượng, “số hóa” để có thể nắm bắt hiện trạng và xu thế biến đổi theo thời gian cũng như phân bố trong không gian. Chúng tôi hy vọng số hóa sẽ thu được kết quả đáng kể và sẽ đóng góp nhiều vào việc xây dựng cơ sở dữ liệu đối với nhiều hạng mục, khía cạnh phát triển Thủ đô nói riêng và Việt Nam nói chung.

Quả thật bài viết này đã dài, đề cập nhiều vấn đề liên quan đến lập và thực hiên QHHN 100, xin được dừng ở đây. Mong được mọi người đọc và cho ý kiến./.

GS Hoàng Xuân Cơ

Hội Kinh tế môi trường Việt Nam

Bạn đang đọc bài viết Một vài suy ngẫm về Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn trăm năm (bài cuối). Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0937 68 8419 Hoặc email: [email protected]

Cùng chuyên mục

Chuyến tri ân ấm áp nghĩa tình
Văn phòng Cơ quan đại diện phía Nam – Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt Nam vừa cùng Công ty TNHH Công nghệ môi trường Tín Thành đến thăm, tặng quà Mẹ Việt Nam Anh hùng và 5 gia đình chính sách tại TP.HCM.

Tin mới