Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong kỷ nguyên vươn mình của Việt Nam (Bài cuối)
Hiện nay, doanh nghiệp nhà nước đã có bước tiến rõ ràng, cả về số lượng, cơ cấu hoạt động và hiệu quả.

Vai trò dẫn dắt của Kinh tế nhà nướcvà DNNN
Để hiểu sâu vấn đề vai trò của KTNN nói chung và DNNN nói riêng cần phải xem xét thêm về hai loại hình này được sử dụng trên Thế giới như thế nào. Nếu tra trên mạng sẽ thấy vấn đề khá phức tạp, kể cả về thuật ngữ, khái niệm, nội hàm và mục đích sử dụng, phát triển hai loại hình kinh tế này. Hiện nay, nhiều học giả vẫn cho rằng thuật ngữ doanh nghiệp nhà nước vẫn còn mơ hồ, cả ba từ trong thuật ngữ này đều nằm trong tranh cãi và có thể được diễn giải theo nhiều cách khác nhau. Vì vậy, khi sử dụng thuật ngữ này phải chỉ rõ nguồn gốc, khái niệm và với bài viết này chúng tôi sử dụng các thuật ngữ được sử dụng trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Cho dù như vậy, các học giả nước ngoài vẫn đề cao vai trò của KTNN nói chung và DNNN nói riêng. Một tài liệu chỉ ra rằng, DNNN được coi là một thực thể kinh doanh do chính quyền trung ương hoặc địa phương thành lập hoặc sở hữu, thông qua sắc lệnh hành pháp hoặc luật định. DNNN hướng đến mục tiêu tạo ra lợi nhuận cho chính phủ, ngăn chặn tình trạng độc quyền của khu vực tư nhân, cung cấp hàng hóa với giá thấp hơn, thực hiện các chính sách của chính phủ hoặc phục vụ các vùng sâu vùng xa, nơi doanh nghiệp tư nhân còn khan hiếm. Chính phủ thường nắm giữ toàn bộ hoặc phần lớn quyền sở hữu và giám sát hoạt động của mọi loại hình kinh tế. DNNN có cấu trúc pháp lý riêng biệt, với các mục tiêu tài chính và phát triển, chẳng hạn như làm cho các dịch vụ dễ tiếp cận hơn trong khi vẫn tạo ra lợi nhuận (như đường sắt nhà nước chẳng hạn).
KTNN cũng như DNNN được sử dụng khác nhau ở từng quốc gia theo điều kiện, hoàn cảnh riêng của họ. Chẳng hạn, ở Mỹ, nơi được coi là vận hành kinh tế thị trường thành công bậc nhất, khái niệm "Doanh nghiệp Nhà nước" không đơn giản như ở một số quốc gia khác. Mặc dù Hoa Kỳ không có một "Đạo luật Doanh nghiệp Nhà nước" thống nhất, bao quát, nhưng chính phủ vẫn tham gia vào các hoạt động thương mại thông qua nhiều thực thể khác nhau, thường được gọi là Doanh nghiệp do Chính phủ Tài trợ (GSE), như Fannie Mae và Freddie Mac, hoặc thông qua các cơ quan liên bang hoạt động như doanh nghiệp. Các thực thể này được chính phủ thành lập hoặc quản lý để thực hiện các mục đích công cụ thể, đôi khi với mục tiêu tạo ra lợi nhuận, nhưng luôn có sự giám sát và kiểm soát nhất định của chính phủ. Ở hầu hết các nước OPEC, chính phủ sở hữu các công ty dầu mỏ hoạt động trên lãnh thổ của mình. Các DNNN của Trung Quốc do Ủy ban Giám sát và Quản lý Tài sản Nhà nước (SASAC) sở hữu, quản lý và thường sở hữu, vận hành các dịch vụ công, khai thác tài nguyên hoặc quốc phòng. Các DNNN của Trung Quốc thực hiện các chức năng như: đóng góp vào nguồn thu của chính quyền trung ương và địa phương thông qua cổ tức và thuế, hỗ trợ việc làm ở thành thị, giữ giá đầu vào quan trọng ở mức thấp, chuyển vốn vào các ngành công nghiệp và công nghệ mục tiêu, hỗ trợ tái phân phối dưới cấp địa phương đến các tỉnh miền Tây và nội địa nghèo hơn, và hỗ trợ nhà nước ứng phó với thiên tai, khủng hoảng tài chính và bất ổn xã hội.
Thật ra, trong lý thuyết kinh tế thị trường thì vai trò của Chính phủ chủ yếu là quản lý, kiểm soát các hoạt động kinh tế. Mọi quyết định về sản xuất/cung ứng dịch vụ gì, bằng cách nào và cho ai (ba vấn đề kinh tế cơ bản) cũng như giá giao dịch đều do cung, cầu thị trường quyết định còn nếu Chính phủ tham vào sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ thì cũng được coi là nguồn cung và khi tiêu thụ hàng hóa nào đấy thì là bên cầu. Vì vậy, đối với một số loại hàng hóa, dịch vụ mang tính khởi động, ban đầu, khởi nghiệp hoặc dịch vụ cơ bản để phát triển các hoạt động kinh tế (điện năng, một số loại cơ sở hạ tầng chẳng hạn) thì Nhà nước có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế này. Tuy nhiên, do Nhà nước vừa quản lý, vừa tham gia trực tiếp vào hoạt động kinh tế nên rất có thể xảy ra tình trạng kém năng động, độc quyền và hiệu suất hoạt động không cao. Có thể thấy, trước đây Việt Nam và một số nước XHCN khác thực hiện nền kinh tế Kế hoạch hóa tập trung (KTKHHTT), nghĩa là ba vấn đề kinh tế cơ bản đều do Nhà nước quyết định nên sản phẩm làm ra kém đa dạng, chậm cải tiến, rất nghèo nàn về mẫu, mã (ví dụ màu vải may quần áo chỉ có 3 màu chính mang tên 3 tầng lớp nhân dân: màu xanh công nhân, màu xanh lính, màu ghi cán bộ) nhưng vì không có loại thay thế, được phân phối với giá rẻ (do Nhà nước quy định) nên mọi người đều phải mua.
Ngay ở Liên Xô cũ, đất nước đầu tiên đưa được con người ra vũ trụ nhưng sản xuất xe máy, xe đạp lại rất thô sơ để giá rẻ, cung cấp được cho nhiều người. Nhiều hệ quả của KTKHHTT (chủ yếu là KTNN và kinh tế Hợp tác xã) đã xảy ra gần đúng với lý thuyết kinh tế: năng suất lao động kém, hàng hóa sản xuất không đa dạng, ít được thay đổi, thể hiện rõ tính độc quyền,… Nói đi cũng cần nói lại, chính KTNN và kinh tế tập thể ở miền Bắc Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ đã là nguồn cung cấp sức người (đi bộ đội), sức của to lớn cho tiền tuyến đánh thắng và giành thắng lợi hoàn toàn năm 1975. Vấn đề là sau chiến tranh mà vẫn áp dụng KTKHHTT nên để đất nước rơi vào khủng hoảng trước khi tiến hành công cuộc Đổi mới.
Thật may mắn, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã sớm nhận ra những yếu kém dẫn đến nền kinh tế đất nước rơi vào khủng hoảng nên đã chuyển sang áp dụng nền Kinh tế thị trường định hướng XHCN. Việc chuyển đổi này chưa có đủ thời gian kiểm nghiệm nên quá trình thực hiện vẫn có nhiều thay đổi cho phù hợp.
Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”. Trong các văn kiện sau này của Đảng, kinh tế nhà nước đóng vai trò then chốt trong định hướng và điều tiết nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, công bằng và tiến bộ xã hội.
Dưới đây là vai trò cụ thể của KTNN được đề cập trong các văn kiện của Đảng:
Định hướng, dẫn dắt và điều tiết nền kinh tế;
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững;
Bảo đảm an sinh xã hội và công bằng xã hội;
Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
Bảo vệ lợi ích quốc gia, an ninh quốc phòng;
Thật ra vẫn cần nhiều nghiên cứu làm rõ hơn các vai trò này của KTNN nhưng không thể phủ nhận những thành tựu của KTNN trong vai trò dẫn dắt này. Kinh tế nhà nước được khẳng định là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng điều tiết dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường. Đây là chức năng quan trọng của kinh tế nhà nước, đồng thời cũng là điểm đặc trưng, tiến bộ của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nội hàm của khái niệm KTNN đã được diễn đạt rõ hơn, bao gồm nguồn lực nhà nước và DNNN. Nguồn lực nhà nước bao gồm tài nguyên, đất đai, ngân sách nhà nước, các quỹ dự trữ quốc gia,... cùng với các công cụ, cơ chế, chính sách được Nhà nước sử dụng để định hướng, điều tiết nền kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Như vậy, khái niệm DNNN không đồng nhất với KTNN, mà DNNN chỉ là một bộ phận của KTNN. Tuy nhiên, theo từng giai đoạn vai trò của KTNN cũng như DNNN có thay đổi, nếu như trước giai đoạn trước đổi mới (có thể coi là trước năm 1986) thì KTNN giữ vai trò chủ đạo, chi phối toàn bộ nền kinh tế, từ sản xuất đến phân phối, hầu hết các doanh nghiệp, tài sản đều thuộc sở hữu nhà nước, chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ nhà nước. Đến Giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990): Từng bước chuyển đổi sang kinh tế thị trường, kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng, nhưng bắt đầu có sự xuất hiện và phát triển của các thành phần kinh tế khác. Giai đoạn tiếp theo (1990 - nay): Kinh tế nhà nước tiếp tục giữ vai trò quan trọng, đặc biệt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, cơ sở hạ tầng, tỷ trọng đóng góp vào GDP có xu hướng giảm, nhưng vẫn đóng vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô, ổn định thị trường, khu vực kinh tế tư nhân và Đầu tư nước ngoài (FDI) có sự tăng trưởng mạnh mẽ, đóng góp ngày càng lớn vào GDP.
Đặc biệt, khi mới đây, ngày 04 tháng 5 năm 2025, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 68-NQ/TW về Phát triển kinh tế tư nhân nhằm đưa mức đóng góp của KTTN vào GDP tăng cao trong giai đoạn tới. Vì vậy, liệu vai trò của KTNN có bị giảm hay không và cần thay đổi theo hướng nào để vẫn giữ vững vai trò tối quan trọng trong nền kinh tế đất nước phải được nghiêm túc xem xét thêm.

DNNN cần/nên tập trung hoạt động ở những lĩnh vực nào
Hiện nay, DNNN đã có bước tiến rõ ràng, cả về số lượng, cơ cấu hoạt động và hiệu quả. Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm 2023, Việt Nam có khoảng 671 doanh nghiệp nhà nước và 142 doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp của Nhà nước. Tổng số DNNN (bao gồm cả 100% vốn nhà nước và có vốn chi phối) là 676 doanh nghiệp vào cuối năm 2023. Đặc biệt đã hình thành nhiều tập đoàn kinh tế Nhà nước (TĐKTNN), tổng công ty Nhà nước (TCTNN).
Việt Nam hiện có 10 tập đoàn kinh tế nhà nước: Tập đoàn Viễn thông Quân đội; Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam; Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam; Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo việt; Tập đoàn Dệt may Việt Nam; Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam; Tập đoàn Điện lực Việt Nam; Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam; Tập đoàn Công nghiệp Hoá chất Việt Nam; Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam.
Chỉ nhìn vào nội hàm tên của các TĐKTNN đã thấy, các tập đoàn này tập trung sản xuất, cung cấp dịch vụ ở nhiều ngành quan trọng, trong đó phải kể tới ngành điện, ngành năng lượng, ngành viễn thông, ngành tài chính, ngành sản xuất vũ khí,… vốn là những ngành kinh tế huyết mạch của đất nước, có vai trò hỗ trợ, dẫn đường bảo đảm cho sự phát triển ổn định của xã hội.
Trong niên giám thống kê năm 2024, đã thống kê một số sản phẩm công nghiệp quan trọng như điện, than, dầu thô, xi măng,… có sự so sánh mức sản xuất từ KTNN/DNNN và KTTN/DNTN (ngoài nhà nước). Một số sản phẩm sản xuất từ KTNN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng sản xuất của toàn quốc gia, điển hình là điện sản xuất chiếm khoảng 80%, than sạch chiếm khoảng 99%, hay phân hóa học chiếm trên 77%. Tuy nhiên, tỷ lệ một số sản phẩm như điện và phân hóa học có xu thế giảm theo các năm từ 2020 đến 2024. Điều này cũng dễ lý giải khi tỷ lệ sản xuất các sản phẩm này của Kinh tế ngoài nhà nước lại tăng trong giai đoạn này (xem bảng 4). Trong Niên giám thống kê không trình bày sản phẩm, giá trị kinh tế của một số mặt hàng, điển hình là các sản phẩm vũ khí do các Tập đoàn, Công ty trong nước sản xuất, như đã được trưng bày trong Triển lãm Quốc phòng và An ninh quốc tế FEINDEF 2025.
Bảng 4. So sánh mức sản xuất một số sản phẩm của KTNN với loại hình kinh tế khác.
Loại sản phẩm | Thành phần đầu tư | 2020 | 2021 | 2022 | 2023 | Sơ bộ 2024 |
Than sạch (nghìn tấn) | Nhà nước | 44179.5 | 47853.9 | 49101.5 | 46861.4 | 45018.1 |
Ngoài nhà nước | 418.9 | 461.7 | 586.6 | 309.9 | 296.9 | |
Dầu thô khai thác (nghìn tấn) | Nhà nước | 52 | 38 | 19 | 24 | 2.3 |
ĐTNN | 11418 | 10932 | 10821 | 10388.3 | 9888.1 | |
Phân hóa học (nghìn tấn) | Nhà nước | 3610.9 | 3688.3 | 3625.1 | 3338.6 | 3188.5 |
Ngoài nhà nước | 538.7 | 605.2 | 660.9 | 769.1 | 846.5 | |
ĐTNN | 5.7 | 8.3 | 36.7 | 80.7 | 85 | |
Phân NPK (nghìn tấn) | Nhà nước | 1481.9 | 1566.9 | 1554.1 | 1173.4 | 844.8 |
Ngoài nhà nước | 1703.1 | 1723.9 | 1583.6 | 2544.4 | 3290.9 | |
ĐTNN | 312.6 | 360.4 | 409.2 | 375.7 | 395.8 | |
Xi măng (nghìn tấn) | Nhà nước | 32900.2 | 31815 | 33348.5 | 26236.8 | 26329.7 |
Ngoài nhà nước | 50096.3 | 51992.1 | 52835 | 47462.4 | 47869.3 | |
ĐTNN | 29286.6 | 27391.4 | 25068.6 | 16656.1 | 16626.8 | |
Sắt, thép dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác (nghìn tấn) | Nhà nước | 2074.7 | 1689.3 | 975.5 | 805 | 810.3 |
Ngoài nhà nước | 8376.6 | 7526.7 | 6041.4 | 5004.9 | 5044 | |
ĐTNN | 13466.3 | 15716.3 | 12340.2 | 13145.2 | 13412.4 | |
Thép cán và thép hình (nghìn tấn) | Nhà nước | 3610.4 | 3178.2 | 2471.4 | 1663.7 | 1710.6 |
Ngoài nhà nước | 15672.5 | 18924.4 | 17729 | 16727.4 | 17893.7 | |
ĐTNN | 11996.7 | 9487.7 | 6419.1 | 6295.3 | 6838.7 | |
Điện phát ra (triệu kwh) | Nhà nước | 190412.5 | 172942 | 181965.8 | 174708.2 | 187608.6 |
Ngoài nhà nước | 24100 | 54062.5 | 58291.1 | 72886.2 | 88539.4 | |
ĐTNN | 20897.9 | 17860.2 | 18373.3 | 19987.8 | 16977.6 |
Ghi chú: ĐTNN: Đầu tư nước ngoài
Mặc dù chịu nhiều tác động bất lợi của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, song lợi nhuận của các tập đoàn kinh tế nhà nước vẫn duy trì ở mức ổn định. Theo tài liệu trích dẫn trong [1], năm 2022, tổng lợi nhuận trước thuế của 18/19 tập đoàn, tổng công ty ước đạt 39.219 tỷ đồng (bằng 173% kế hoạch và bằng 117% so với năm 2021; tổng doanh thu của 19 tập đoàn kinh, tổng công ty nhà nước ước đạt 1,1 triệu tỷ đồng (bằng 114% kế hoạch và 133% so với năm 2021; 15/19 tập đoàn, tổng công ty hoàn thành và vượt kế hoạch về doanh thu; 17/19 tập đoàn, tổng công ty hoàn thành và vượt kế hoạch về lợi nhuận trước thuế; 16/19 tập đoàn, tổng công ty hoàn thành và vượt kế hoạch về nộp ngân sách nhà nước. Trong đó, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) có doanh thu hợp nhất đạt 163,8 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng 6,1%, lợi nhuận trước thuế đạt 43,1 nghìn tỷ đồng, tăng 3% so với năm 2021, nộp ngân sách nhà nước 38 nghìn tỷ đồng; Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam có doanh thu đạt 931,2 nghìn tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 82,2 nghìn tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước đạt 170,6 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 9,5% tổng thu ngân sách cả nước,
Tuy nhiên, cũng theo [1], kết quả sản xuất, kinh doanh của một số tập đoàn kinh tế nhà nước chưa tương xứng với nguồn vốn đầu tư của Nhà nước, hiệu quả hoạt động còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở cửa, hội nhập sâu rộng quốc tế; một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước làm ăn thua lỗ, không đạt được chỉ tiêu đề ra, đầu tư phát triển thiếu trọng tâm, trọng điểm, giải ngân vốn còn chậm, nhiều dự án chậm tiến độ, không đi vào hoạt động gây lãng phí, thất thoát lớn tài sản của Nhà nước. Năm 2021, cả nước có 58/673 doanh nghiệp (chiếm 9% tổng số doanh nghiệp nhà nước) có lỗ phát sinh, với tổng số lỗ là 15.785 tỷ đồng; có 138/673 doanh nghiệp (chiếm 21% tổng số doanh nghiệp nhà nước) còn lỗ luỹ kế với tổng số lỗ luỹ kế là 50.152 nghìn tỷ đồng; có 9/75 công ty mẹ chưa bảo toàn được vốn chủ sở hữu. Cụ thể: Công ty mẹ - Tập đoàn Hóa chất Việt Nam lỗ lũy kế là 2.613 tỷ đồng; Công ty mẹ - Tổng công ty Đường sắt Việt Nam lỗ lũy kế 1.822 tỷ đồng; Công ty mẹ - Tổng công ty Cà phê Việt Nam lỗ lũy kế 453 tỷ đồng; Công ty mẹ - Công ty TNHH MTV Đầu tư tài chính nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh lỗ lũy kế 426 tỷ đồng; Công ty mẹ - Tổng công ty 15 lỗ lũy kế 156 tỷ đồng...
Những yếu kém nêu trên cần được phân tích làm rõ nguyên nhân để chấn chỉnh nhằm nâng cao hiệu quả của các DNNN trong thời gian tới. Trong số các nguyên nhân đã được đề cập gần đây, nổi lên nguyên nhân về Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, đặc biệt năng lực cụ thể hoá, thể chế hoá quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước của một số người đứng đầu tập đoàn nhà nước, tổng công ty nhà nước chưa đầy đủ, còn chậm, chưa đặt lợi ích của Đảng, Nhà nước, nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, có biểu hiện “lợi ích nhóm”, thao túng thị trường, thậm chí suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực [1]. Đây là nguyên nhân phải nhanh chóng giải quyết triệt để.
Như vậy, KTNN, DNNN Việt Nam đã và đang duy trì và phát triển ở những ngành cần thiết, có vai trò hỗ trợ, dẫn đường bảo đảm cho sự phát triển ổn định của xã hội; khu vực nào mà các thành phần kinh tế khác có thể phát triển và hoạt động có hiệu quả hơn thì sẽ không cần sự hiện diện của KTNN.

Đôi điều suy ngẫm
Với những gì đang diễn ra trong nửa đầu năm 2025 và những gì sẽ diễn ra tiếp theo có thể thấy, Việt Nam đang và sẽ có những thay đổi theo chiều hướng phát triển nhanh, mạnh và bền vững. Những chỉ tiêu đặt ra ở mức khá cao, điển hình là tăng trưởng GDP ở mức hai con số từ 2026 đến 2030 và đất nước sẽ là quốc gia có mức thu nhập trung bình cao, đời sống nhân dân được liên tục cải thiện, vị thế đất nước được nâng cao,…Vì vậy, vẫn rất cần có chính sách hợp lý để phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nhà nước nói riêng để đạt được các mục tiêu một cách bề vững,
Rất cần có những nghiên cứu kỹ hơn về cơ cấu kinh tế để phát huy được hết những nguồn lực trong xã hội phục vụ phát triển. Đặc biệt, các loại hình kinh tế mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn phải được nghiên cứu áp dụng để không chỉ nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế mà còn bảo vệ, cải thiện được môi trường sống, để dân được sống trong môi trường thiên nhiên trong lành, môi trường văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.
Còn nhiều việc phải làm, đặc biệt là hướng sản xuất đến những sản phẩm có giá trị gia tăng cao như chíp điện tử, các loại người máy, các loại vũ khí, các sản phẩm phần mềm có tính ứng dụng cao,… Một số sản phẩm loại này cần Nhà nước đầu tư dưới nhiều dạng khác nhau từ nghiên cứu cơ bản, sản xuất trong phòng thí nghiệm, sản xuất sản phẩm thương mại. Các DNNN như các tập đoàn, tổng công ty phải nhanh chóng vào cuộc mới có thể sớm có sản phẩm sánh vai với các quốc gia khác trên Thế giới. Ngành thống kê cũng phải sớm cập nhật các loại hình sản xuất mới để thu thập và trình bày được kết quả hoạt động và thống kê được mức sản phẩm, giá trị sản phẩm của các loại hình kinh tế mới (chẵng hạn kinh tế số vẫn chưa được gọi tên trong niên giám thống kê).
Quả thật, DNNN với các Tập đoàn, Tổng công ty lớn đã đóng góp không nhỏ vào phát triển chung của toàn xã hội. Nhưng vẫn còn đó những hạn chế, yếu kém đã được nhận biết và tổng kết, Xin dẫn lại phát biểu của Nguyên Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng [2]: “Hiệu quả kinh doanh và đóng góp của phần lớn doanh nghiệp nhà nước còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực Nhà nước đấu tư. Không ít doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ, thất thoát, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với những dự án đầu tư hàng nghìn tỷ đồng “đắp chiếu, làm trầm trọng thêm nợ xấu ngân hàng và nợ công quốc gia, gây bức xúc trong nhân dân” để thấy những “bệnh” đã và đang phát sinh trong hoạt động của KTNN nói chung và DNNN nói riêng. Vụ án đau lòng ở Bộ Công thương liên quan đến nhiều cán bộ (kể cả Thứ trưởng) là ví dụ, cho thấy: nếu không quản lý tốt, nếu không có cạnh tranh thì dễ xảy ra tiêu cực trong ngành điện. Chắc chắn, ngành điện Việt Nam phải có đổi mới để có nhiều hơn DNTN, DNFDI đầu tư sản xuất và phân phối điện đáp ứng nhu cầu cao trong các giai đoạn tới của Việt Nam.
Các chính sách của Đảng, Nhà nước đã được ban hành, đặc biệt là "Bộ tứ trụ cột" trong bối cảnh phát triển bền vững của Việt Nam hiện nay bao gồm 4 nghị quyết đột phá của Bộ Chính trị: Nghị quyết 57 về phát triển khoa học, công nghệ, Nghị quyết 59 về hội nhập quốc tế, Nghị quyết 66 về cải cách thể chế, và Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế khu vực tư nhân. Cùng với đó là sự vào cuộc quyết liệt của Chính phủ, các cấp, các ngành và sự tham gia, dấn thân của các DN, các nhà khoa học, Việt Nam sẽ có nhiều hơn nữa Tập đoàn, Tổng công ty kinh tế lớn vươn tầm thế giới, trong đó có các DNNN với những sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam có tầm ảnh hưởng toàn cầu.
GS Hoàng Xuân Cơ
Hội Kinh tế môi trường Việt Nam
Tài liệu tham khảo
[1]. Nguyễn Giác Trí, Vai trò của tập đoàn kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, Trang thông tin điện tử tổng hợp- Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, ngày 17/01/2024.
[2]. Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khai mạc Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII), Hệ thống Tư liệu – Văn kiện Đảng.












