Thứ hai, 15/08/2022 00:56 (GMT+7)
Thứ bảy, 11/06/2022 06:55 (GMT+7)

Khôi phục và quản lý bền vững rừng ven biển tại 5 tỉnh vùng ĐBSCL

Dự án “Khôi phục và quản lý bền vững rừng ven biển khu vực ĐBSCL nhằm tăng khả năng thích ứng với BĐKH” tại 5 tỉnh: Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre và Tiền Giang, giúp nâng cao vai trò của sáng kiến trồng rừng ngập mặn trong quy hoạch vùng.

Hội thảo “Tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển thông qua trồng rừng ngập mặn tại ĐBSCL” được tổ chức trong chiều ngày 10/6, tại Hà Nội. Theo đó, Đại sứ quán Hà Lan tại Việt Nam và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) sẽ hỗ trợ Bộ NN&PTNT vận động Quỹ Khí hậu xanh (GCF) tài trợ cho Dự án “Khôi phục và quản lý bền vững rừng ven biển khu vực ĐBSCL nhằm tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu”. 5 tỉnh sẽ tham gia dự án gồm: Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre và Tiền Giang.

Tại Hội thảo, đại diện các cơ quan thuộc chính phủ và 5 tỉnh tham gia dự án đã cùng thảo luận để hoàn thiện đề xuất dự án, tăng tính khả thi cho quá trình triển khai sau này và phục vụ cho việc điều chỉnh quy hoạch và thực hiện các dự án rừng ngập mặn. Qua đó, nâng cao vai trò của sáng kiến trồng rừng ngập mặn trong quy hoạch tổng thể của ĐBSCL.

Khôi phục và quản lý bền vững rừng ven biển tại 5 tỉnh vùng ĐBSCL - Ảnh 1
Dự án “Khôi phục và quản lý bền vững rừng ven biển khu vực ĐBSCL nhằm tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu” thực hiện tại 5 tỉnh: Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre và Tiền Giang. (Ảnh minh họa)

Đặc biệt, các chuyên gia Hà Lan đã đưa ra cách tiếp cận thuận thiên để phát triển rừng ngập mặn tại ĐBSCL. Vành đai rừng ngập mặn và vùng ven biển ĐBSCL đang ở trong tình trạng suy thoái nghiêm trọng. Đây là vấn đề đáng quan tâm, vì trong môi trường trầm tích mềm này, sự kết hợp giữa đê biển - rừng ngập mặn là lựa chọn ưu tiên cho một hệ thống bảo vệ bờ biển bền vững với chi phí xây dựng và bảo trì vừa phải.

Nghị quyết 120 về Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu (Nghị quyết “thuận thiên”) được ban hành năm 2017 đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về tư duy của các cấp, các ngành trong xây dựng chính sách, xác định các chương trình chiến lược, các dự án cấp bách. Thực tiễn bốn năm triển khai cho thấy, việc kế thừa các chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước cùng với tích hợp, lồng ghép kết quả các chương trình nghiên cứu khoa học và công nghệ, các dự án phát triển đã tạo đà mạnh mẽ cho ĐBSCL phát triển và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Theo ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ NN&PTNT), dự án đồng sử dụng vốn vay của ADB và dự kiến triển khai trong giai đoạn 2023 - 2029. Mục tiêu nhằm bảo vệ và phát triển rừng ven biển, đồng thời, hỗ trợ các địa phương vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

ĐBSCL không thể chỉ dựa vào hệ thống đê biển, do hệ thống đê này có thể bị xói lở và chịu các tác động trực tiếp của sóng biển, cũng như không thể ngăn chặn được hiện tượng xói lở bờ biển. Sự suy thoái tự nhiên hiện nay là kết quả của một quá trình lâu dài, bao gồm tác động từ sự thiếu hụt phù sa ở khu vực thượng nguồn sông Mekong (do khai thác cát, xây đập), cũng như nhu cầu sử dụng đất ở vùng ven sẽ đẩy đê dần sát ra biển hơn, để lại vùng triều quá ngắn cho rừng ngập mặn.

Bên cạnh đó, những hạn chế trong công tác quản lý nước và khai thác quá mức nước ngầm dẫn đến đất sụt lún, tác động nghiêm trọng gấp 4 - 5 lần so với mực nước biển dâng. Do đó, một vành đai rừng ngập mặn - được trồng mới hoàn toàn hoặc một phần - sẽ góp phần giảm thiểu những thách thức này, nhưng quan trọng vẫn là các biện pháp bảo vệ vùng ven biển.

Ngoài ra, đối với vùng ĐBSCL, sức ép còn đến từ ngành nuôi tôm nội đồng và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý nước. Do vậy, Việt Nam cần phải có một cách tiếp cận tổng thể để tạo ra các điều kiện thích hợp và dài hạn cho cơ sở hạ tầng màu xanh – xám bảo vệ vùng ven biển. Trong đó, các vấn đề về trầm tích, khai thác cát, sụt lún đất, tái cơ cấu ngành nuôi trồng thủy sản cũng như quản lý rừng ngập mặn đều cần phải có một cách tiếp cận lâu dài, thống nhất và kiên trì. Điều này phù hợp với định hướng phát triển bền vững tại Nghị quyết 120 (ban hành năm 2017) và dự thảo Quy hoạch vùng ĐBSCL (năm 2022), cũng như trong các Quy hoạch tổng thể của địa phương.

Nhằm hỗ trợ Bộ NN&PTNT và ADB trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển dự án, Chính phủ Hà Lan đã chỉ định Tập đoàn Royal HaskoningDHV và Wetlands International thực hiện nghiên cứu về “Tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển thông qua trồng rừng ngập mặn tại ĐBSCL”, với những bài học kinh nghiệm quốc tế dưới góc nhìn tổng thể toàn diện về các yếu tố thành công và thất bại đối với các dự án phục hồi rừng ngập mặn.

Theo các nhà nghiên cứu lâm nghiệp, vùng ĐBSCL (ĐBSCL) có khoảng gần 350.000 ha rừng các loại, trong đó rừng tự nhiên là khoảng 54.000 ha. Hệ thực vật rừng ngập mặn vùng ĐBSCL có 98 loài cây rừng. Riêng các hệ sinh thái đất ngập nước có 36 loài thú, 182 loài chim, 34 loài bò sát và 6 loài lưỡng cư; vùng biển và ven biển có đến 260 loài cá và thuỷ sản. ĐBSCL còn có 10 khu đất thuộc vùng bảo tồn đất ngập nước đã được thành lập và đầu tư phát triển như: Hà Tiên, Vườn quốc gia Tràm Chim, khu dự trữ thiên nhiên U Minh Thượng, Vườn quốc gia Đất Mũi, Rừng đặc dụng Vồ Dơi, Bãi bồi Cà Mau, Tính Dơi, Trà Sư, Láng Sen và Lung Ngọc Hoàng...

Được biết, trong những năm qua, rừng ngập mặn ven biển vùng ĐBSCL đang suy giảm. Chỉ tính riêng trong 5 năm (2011-2016), theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, diện tích rừng ngập mặn toàn vùng đã giảm gần 10%, từ 194.723 ha năm 2011 xuống còn 179.384 ha vào năm 2016 (tức là đã giảm khoảng 15.339 ha). Cũng theo báo cáo nêu trên, toàn vùng ĐBSCL có 24 khu vực thường xuyên bị xói lở trên tổng chiều dài khoảng 147km. Tốc độ xói lở từ 5 - 45m/năm (tức trung bình mỗi năm mất khoảng 500 ha đất).

Lan Anh

Bạn đang đọc bài viết Khôi phục và quản lý bền vững rừng ven biển tại 5 tỉnh vùng ĐBSCL. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0917 681 188 Hoặc email: toasoanktmt@gmail.com

Cùng chuyên mục

Tin mới

BR-VT: Tạo động lực đột phá cho các khu công nghiệp
Theo các chuyên gia, Nghị định 35 của Chính Phủ về quản lý các KCN có hiệu lực đã gỡ vướng nhiều vấn đề cho doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế - xã hội tại các khu công nghiệp trên địa bàn cả nước và tỉnh BR- VT nói riêng.