Gỡ nút thắt tín dụng để nông nghiệp số, nông nghiệp xanh tăng tốc
Tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn đã đạt 4,2 triệu tỷ đồng, nhưng quá trình chuyển đổi sang nông nghiệp số, nông nghiệp xanh vẫn vướng nhiều rào cản về cơ chế, dữ liệu, tài sản bảo đảm và quản trị rủi ro, đòi hỏi chính sách đồng bộ hơn.
Chiều 24/4, Hội thảo "Hoàn thiện chính sách tín dụng cho nông nghiệp số, nông nghiệp xanh" được tổ chức với sự tham gia của các đại biểu Quốc hội, đại diện bộ, ngành, chuyên gia, tổ chức tín dụng và doanh nghiệp.
Theo thống kê, đến đầu năm 2026, dư nợ tín dụng dành cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt khoảng 4,2 triệu tỷ đồng, tăng hơn 14% so với năm trước, chiếm trên 22% tổng dư nợ của toàn nền kinh tế, trực tiếp hỗ trợ hơn 14,6 triệu khách hàng trên cả nước.
Tín dụng xanh đạt gần 780 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2025, tập trung vào các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, năng lượng sạch và nông nghiệp xanh.
Tuy nhiên, theo các đại biểu, để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp hiện đại, hệ thống tín dụng cần tiếp tục được hoàn thiện.

Dòng vốn 4,2 triệu tỷ đồng vẫn chưa đủ mở khóa nông nghiệp xanh, vì sao?
Ông Nguyễn Quang Ngọc, Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng của Agribank cho biết, ngân hàng hiện giữ vai trò chủ lực trong lĩnh vực “Tam nông”, đồng thời là một trong những đơn vị dẫn dắt dòng vốn cho khu vực nông thôn.
Hiện dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn của Agribank đạt 1,26 triệu tỷ đồng, tăng gấp 2,5 lần so với năm 2015 và chiếm khoảng 64% tổng dư nợ của ngân hàng. Đơn vị này đang phục vụ khoảng 2,7 triệu khách hàng vay vốn, trong đó hơn 90% là khách hàng cá nhân tại khu vực nông thôn.

Tuy nhiên, theo ông Ngọc, bài toán vốn cho nông thôn không thể chỉ giải bằng tín dụng ngân hàng. Muốn phát triển bền vững cần có hệ sinh thái tài chính toàn diện với sự tham gia của chính quyền địa phương, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và nền tảng số.
Đại diện Agribank cho rằng khu vực nông thôn hiện vẫn tồn tại nhiều rào cản như hạ tầng công nghệ chưa đồng đều, khả năng tiếp cận dịch vụ số còn hạn chế, tín dụng đen vẫn xuất hiện ở một số nơi, trong khi dữ liệu khách hàng chưa đầy đủ khiến ngân hàng khó mở rộng cho vay tín chấp.
Ở góc độ bảo hiểm, ông Lê Đình Huy, Phó Tổng giám đốc Công ty Bảo hiểm Agribank, nhận định rủi ro là một trong những trở ngại lớn nhất đối với nông nghiệp số và nông nghiệp xanh. Nếu thiếu công cụ quản trị rủi ro hiệu quả, dòng vốn tín dụng sẽ khó phát huy vai trò dẫn dắt chuyển đổi.
Theo ông Huy, việc bảo vệ người nông dân trước thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường là nền tảng để tín dụng xanh đi vào thực tế. Ông cũng lưu ý một số quy định hiện hành nếu áp dụng cứng nhắc có thể làm giảm sự liên kết giữa ngân hàng, bảo hiểm và hộ nông dân trong mô hình tài trợ chuỗi.
Tín dụng còn mắc tư duy cũ, ai sẽ gỡ nút thắt cho nông nghiệp số?
Tại Hội Thảo, ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi nhận định trong bối cảnh biến đổi khí hậu và biến động chuỗi cung ứng toàn cầu, nông nghiệp xanh và nông nghiệp số là yếu tố then chốt để Việt Nam nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng nông sản thế giới.
Theo ông Huy, đến cuối năm 2025, tổng dư nợ toàn nền kinh tế vượt 18 triệu tỷ đồng, trong đó tín dụng cho nông nghiệp đạt hơn 4 triệu tỷ đồng. Dù vậy, tỷ trọng tín dụng xanh vẫn còn khá thấp. Quy mô tín dụng xanh năm 2025 vào khoảng 780.000 - 850.000 tỷ đồng, riêng lĩnh vực nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 4-5%.
Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là tư duy thẩm định tín dụng truyền thống. Nhiều tổ chức tín dụng vẫn dựa chủ yếu vào tài sản thế chấp là bất động sản, trong khi đặc thù sản xuất nông nghiệp thường là đất thuê trả tiền hằng năm, nhà xưởng hoặc tài sản hình thành trong tương lai.
Bên cạnh đó, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán; nhiều hộ nông dân, hợp tác xã tại vùng sâu, vùng xa còn e ngại công nghệ, chưa sẵn sàng cho chuyển đổi số. Điều này khiến việc tiếp cận các sản phẩm tín dụng hiện đại gặp nhiều khó khăn.
Về chính sách, dù Chính phủ đã ban hành Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg quy định tiêu chí môi trường và xác nhận dự án thuộc danh mục phân loại xanh, song việc triển khai trên thực tế vẫn thiếu đồng bộ khi mỗi ngân hàng áp dụng một chuẩn xanh khác nhau. Điều đó khiến doanh nghiệp mất thêm thời gian và chi phí tiếp cận vốn.
Theo các chuyên gia, thị trường hiện cũng thiếu cơ sở dữ liệu chuẩn, thiếu tính minh bạch và thiếu kết nối giữa các chủ thể. Không ít doanh nghiệp chưa đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG), hợp tác xã còn hạn chế năng lực điều hành, trong khi người nông dân thiếu kỹ năng số.
Để tháo gỡ nút thắt, các ý kiến đề xuất cần tái cấu trúc toàn diện hệ sinh thái nông nghiệp, chuyển từ tư duy cấp vốn đơn lẻ sang định hướng dòng vốn theo chuỗi giá trị. Theo đó, mối liên kết giữa Nhà nước, ngân hàng, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân cần được củng cố trên nền tảng dữ liệu số thống nhất.
Một hướng đi được nhấn mạnh là phát triển tín dụng thông minh, tức cấp vốn dựa trên dòng tiền, dữ liệu sản xuất và khả năng tiêu thụ thay vì chỉ dựa vào tài sản bảo đảm. Đồng thời, cần xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về nông nghiệp, môi trường, truy xuất nguồn gốc; hình thành quỹ nông nghiệp xanh và quỹ chuyển đổi số để hỗ trợ triển khai.
Các chuyên gia cũng kiến nghị Ngân hàng Nhà nước sớm ban hành bộ tiêu chuẩn xanh thống nhất, cùng các cơ chế ưu đãi về lãi suất, tái cấp vốn và hạn mức tín dụng cho những ngân hàng tích cực tài trợ lĩnh vực này.
Ngoài ra, việc phát triển các quỹ bảo lãnh tín dụng xanh và bảo hiểm cho tín dụng xanh được xem là giải pháp cần thiết để chia sẻ rủi ro. Khi cơ chế hỗ trợ đầy đủ hơn, dòng vốn cho nông nghiệp số và nông nghiệp xanh sẽ có thêm dư địa tăng trưởng trong thời gian tới.
N.Hà












