Thứ tư, 25/03/2026 07:31 (GMT+7)
Thứ tư, 25/03/2026 06:20 (GMT+7)

Đơn giản hóa thủ tục đăng ký sử dụng các chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát

Theo dõi KTMT trên

Nghị định số 83 tập trung cắt giảm thời gian thực hiện thủ tục, bao gồm rút ngắn thời gian kiểm tra, xử lý hồ sơ và thông báo kết quả; giảm thành phần hồ sơ phải nộp,..

Đơn giản hóa thủ tục đăng ký sử dụng các chất làm suy giảm tầng ozone, gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát

Sau một thời gian triển khai thực hiện Nghị định 06/2022/NĐ-CP, việc áp dụng 2 thủ tục hành chính về đăng ký, phân bổ và điều chỉnh, bổ sung hạn ngạch các chất được kiểm soát cho thấy vẫn còn một số nội dung cần điều chỉnh để bảo đảm thuận lợi hơn cho cơ quan, doanh nghiệp trong quá trình thực hiện. 

Do đó, Nghị định số 83/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP của Chính phủ quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozone, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 119/2025/NĐ-CP theo hướng tập trung cắt giảm thời gian thực hiện thủ tục, bao gồm rút ngắn thời gian kiểm tra, xử lý hồ sơ và thông báo kết quả; giảm thành phần hồ sơ phải nộp, đặc biệt đối với các loại giấy tờ có thể tra cứu trực tuyến trên Cơ sở dữ liệu quốc gia, Cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Đơn giản hóa thủ tục đăng ký sử dụng các chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát - Ảnh 1
Tình trạng suy giảm tầng ozone, hiệu ứng nhà kính đã gây ra không ít hệ lụy đối với trái đất và cuộc sống của con người. Ảnh minh họa

Cụ thể, Nghị định 83/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 24 về đăng ký và báo cáo sử dụng các chất được kiểm soát. Trong đó, sửa đổi, bổ sung khoản 3 về hồ sơ đăng ký bao gồm:

a) Đơn đăng ký sử dụng các chất được kiểm soát theo Mẫu số 01 của Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định này: 01 bản chính. (Bỏ yêu cầu về việc tổ chức phải nộp “bản sao Văn bản chứng minh tư cách pháp nhân của tổ chức đăng ký theo quy định pháp luật” do văn bản này có thể tra cứu trên cơ sở dữ liệu chuyên ngành, không cần thiết phải yêu cầu tổ chức nộp bản sao có xác nhận và dấu sao y bản chính về văn bản đó).

b) Văn bản chứng minh tư cách pháp nhân của tổ chức đăng ký theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về đầu tư hoặc pháp luật có liên quan: 01 bản sao có xác nhận và đóng dấu sao y bản chính của tổ chức đăng ký hoặc bản sao điện tử từ sổ gốc hoặc bản sao điện tử được chứng thực từ bản chính, trừ trường hợp thông tin có thể khai thác từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp hoặc cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác.

Trường hợp thông tin của tổ chức đăng ký không khai thác được hoặc khai thác được nhưng không đầy đủ, không chính xác từ các cơ sở dữ liệu nêu trên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường yêu cầu tổ chức bổ sung bản sao có xác nhận và đóng dấu sao y bản chính của tổ chức đăng ký hoặc bản sao điện tử từ sổ gốc hoặc bản sao điện tử được chứng thực từ bản chính của văn bản quy định tại điểm này.

Trong thời hạn 2 ngày làm việc (quy định cũ là 3 ngày), kể từ ngày nhận hồ sơ đăng ký, Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông báo cho tổ chức đăng ký về việc chấp nhận hồ sơ hợp lệ hoặc yêu cầu bổ sung, hoàn thiện hồ sơ. Thời hạn bổ sung, hoàn thiện hồ sơ đăng ký là không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày có thông báo về việc yêu cầu bổ sung, hoàn thiện hồ sơ.

Trong thời hạn 5 ngày làm việc (quy định cũ là 10 ngày), kể từ ngày nhận hồ sơ đăng ký hợp lệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, đánh giá hồ sơ đăng ký và công bố thông tin về tổ chức đã hoàn thành đăng ký sử dụng chất được kiểm soát trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính và Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. 

Nghị định số 83/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 26 về trình tự, thủ tục phân bổ, điều chỉnh, bổ sung, hủy phân bổ hạn ngạch sản xuất và nhập khẩu các chất được kiểm soát.

Cụ thể, sửa đổi khoản 2 Điều 26: Căn cứ quy định tại Điều 24, Điều 25 Nghị định này, trong thời hạn 22 ngày làm việc, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét quyết định phân bổ hạn ngạch sản xuất và nhập khẩu cho tổ chức theo quy định tại Mẫu số 03A của Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định này thông qua các hoạt động sau:

a) Rà soát, đánh giá thông tin đăng ký và báo cáo tình hình sử dụng các chất được kiểm soát của tổ chức;

b) Đối chiếu tổng lượng tiêu thụ quốc gia và mục tiêu, yêu cầu quản lý về các chất được kiểm soát;

c) Tổ chức kiểm tra thực tế nhằm xác minh thông tin đăng ký, đánh giá hồ sơ năng lực, kỹ thuật và công nghệ sản xuất trong trường hợp cần thiết;

d) Lấy ý kiến Bộ Công thương bằng văn bản về dự kiến phân bổ hạn ngạch. Thời gian tham gia ý kiến của Bộ Công thương là không quá 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản lấy ý kiến. Quá thời hạn nêu trên mà cơ quan được lấy ý kiến không có văn bản trả lời thì được xác định là thống nhất với nội dung hồ sơ.

Tổ chức có nhu cầu điều chỉnh, bổ sung hạn ngạch sản xuất và nhập khẩu các chất được kiểm soát gửi đơn đề nghị theo Mẫu số 04 của Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định này đến Bộ Nông nghiệp và Môi trường bằng hình thức trực tiếp, trực tuyến hoặc gửi theo dịch vụ bưu chính để được xem xét, điều chỉnh, bổ sung trước ngày 10 tháng 7 hằng năm. Việc điều chỉnh, bổ sung hạn ngạch được thực hiện theo trình tự phân bổ hạn ngạch. Bộ Nông nghiệp và Môi trường xem xét, quyết định điều chỉnh, bổ sung hạn ngạch sản xuất và nhập khẩu trong thời hạn 22 ngày làm việc (quy định cũ là 30 ngày) theo quy định tại Mẫu số 03B của Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định này.

Trong thời hạn 2 ngày làm việc (quy định cũ là 3 ngày), cơ quan quản lý chuyên ngành về biến đổi khí hậu thông báo việc phân bổ, điều chỉnh, bổ sung hạn ngạch sản xuất và nhập khẩu các chất được kiểm soát tới tổ chức đăng ký trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính theo Mẫu số 05A và Mẫu số 05B của Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định này.

Theo Quyết định 496/QĐ-TTg ngày 11/6/2024, các chất làm suy giảm tầng ozon được kiểm soát theo Nghị định thư Montreal được phân loại theo 2 nhóm chính:

(i) Các chất và sản phẩm, thiết bị có chứa hoặc sản xuất từ các chất bị cấm sản xuất, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất và tiêu thụ, bao gồm: Bromochloromethane, Carbon tetrachloride (CTC), Chlorofluorocarbon (CFC), Halon, Hydrobromofluorocarbon (HBFC), Methyl chloroform;

(ii) Các chất được kiểm soát có điều kiện: Methyl bromide chỉ nhập khẩu theo giấy phép cho mục đích khử trùng và kiểm dịch hàng xuất khẩu; Các chất Hydrochlorofluorocarbon (FCFC) chỉ nhập khẩu theo hạn ngạch được phân bổ theo lộ trình quy định và dừng nhập khẩu, xuất khẩu từ năm 2040; Các chất Hydrofluorocarbon (HFC) chỉ nhập khẩu theo hạn ngạch được phân bổ theo lộ trình quy định từ năm 2024.

Theo Nghị định 06/2022/NĐ-CP quy định chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát là các chất Hydrofluorocarbon (sau đây gọi tắt là HFC).

Đến năm 2045, giảm phát thải 11,2 triệu tấn CO2tđ 

Trước đó, ngày 11/6/2024, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 496/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch quốc gia về quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozon, chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát.

Theo đó, mục tiêu của kế hoạch nhằm quản lý, loại trừ hiệu quả các chất làm suy giảm tầng ozon, chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát theo lộ trình thực hiện Nghị định thư Montreal thông qua các giải pháp tăng cường quản lý, loại trừ các chất được kiểm soát, thực hiện chuyển đổi công nghệ và sử dụng các chất có giá trị tiềm năng làm nóng lên toàn cầu thấp hoặc bằng "0" và triển khai các giải pháp làm mát bền vững, phấn đấu đến năm 2045 giảm phát thải 11,2 triệu tấn CO2tđ từ hoạt động loại trừ các chất được kiểm soát.

Các mục tiêu cụ thể từ nay đến năm 2045:

Về quản lý, loại trừ các chất được kiểm soát: Thực hiện tốt cam kết không sản xuất, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất và tiêu thụ các chất; sản phẩm, thiết bị có chứa hoặc sản xuất từ các chất Bromochloromethane, CTC, CFC, Halon, HBFC, Methyl chloroform, HCFC 141b và HCFC-141b trộn sẵn trong polyol; không nhập khẩu và xuất khẩu các chất HCFC khác từ năm 2040. Chỉ nhập khẩu, sử dụng chất Methyl bromide cho mục đích khử trùng và kiểm dịch hàng xuất khẩu. Giảm dần lượng tiêu thụ các chất HFC và duy trì ở mức 20% lượng tiêu thụ cơ sở từ năm 2045.

Về quản lý sản phẩm, thiết bị sử dụng các chất HCFC và HFC theo giá trị tiềm năng làm nóng lên toàn cầu (GWP): Các sản phẩm, thiết bị được sản xuất, nhập khẩu sử dụng các chất được kiểm soát có GWP được giảm theo lộ trình quy định tại mục III của Quyết định này. Cải thiện hiệu suất năng lượng trung bình của thiết bị sản xuất và nhập khẩu sử dụng chất được kiểm soát vào năm 2030 phấn đấu đạt 50% so với năm 2022.

Về quản lý vòng đời các chất được kiểm soát: Các kỹ thuật viên thực hiện hoạt động lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa sản phẩm, thiết bị có chứa các chất được kiểm soát có văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận phù hợp theo quy định. Các chất được kiểm soát được thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng và tái chế đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, sau khi tái chế nếu không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật sẽ được xử lý để tiêu hủy theo quy định. Phổ biến và nhân rộng các mô hình về cơ chế tạo tín chỉ cacbon từ hoạt động tái chế và xử lý các chất được kiểm soát.

Về làm mát bền vững: Các yêu cầu về giảm hiệu ứng đảo nhiệt đô thị và chống chịu với nắng nóng cực đoan được nghiên cứu, lồng ghép trong các chương trình phát triển đô thị cấp quốc gia, cấp tỉnh, kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của quốc gia và từng địa phương, quy hoạch tỉnh và các quy hoạch chuyên ngành có liên quan của tỉnh. Hoạt động làm mát bền vững được triển khai thực hiện tại các đô thị đặc biệt, đô thị loại I và loại II.

Các công trình xây dựng mới đạt chứng nhận công trình xanh, công trình hiệu quả năng lượng trong thiết kế, xây dựng và vận hành; tòa nhà xây dựng mới đạt tiêu chuẩn kỹ thuật trong thiết kế, xây dựng đáp ứng mức cân bằng về năng lượng (NZEB); tăng diện tích cây xanh bình quân trên mỗi người dân đô thị. Phổ biến và nhân rộng các mô hình về làm mát bền vững, mô hình kinh doanh dịch vụ làm mát tại các khu đô thị, khu dân cư, tòa nhà văn phòng, thương mại và công trình công cộng.

Để để hoàn thành các mục tiêu trên, kế hoạch đặt ra 6 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm: (1) Xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách; (2) Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; (3) Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; (4) Tuyên truyền, phổ biến kiến thức và nâng cao nhận thức; (5) Hợp tác song phương và đa phương, huy động nguồn lực; (6) Giám sát, đánh giá.

Theo kế hoạch, các cơ quan liên quan sẽ triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ làm mát tiên tiến sử dụng các chất thay thế có GWP thấp, ưu tiên các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc có GWP bằng "0".

Nghiên cứu xây dựng một cơ sở nghiên cứu và ứng dụng xuất sắc về làm mát bền vững để thúc đẩy hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ giữa các ngành công nghiệp với các trường đại học và doanh nghiệp trong việc thiết kế, phát triển, thử nghiệm và thí điểm các công nghệ làm mát bền vững.

Nghiên cứu, hướng dẫn áp dụng các phương pháp tối ưu về làm mát thụ động, tăng hiệu quả sử dụng năng lượng trong quy hoạch, thiết kế và xây dựng công trình. Nghiên cứu, xây dựng thí điểm hệ thống cảm biến quan trắc nhiệt, bản đồ nhiệt đô thị, bản đồ tiêu thụ năng lượng và phát thải cacbon theo thời gian thực ở một số đô thị, đồng thời tích hợp dữ liệu vào hệ thống cơ sở dữ liệu môi trường chung của đô thị trên nền tảng Hệ thống quản lý thông tin địa lý (GIS) hoặc trên nền tảng công nghệ hiện đại khác...

Nằm cách bề mặt Trái đất 15–35 km, tầng ozone đóng vai trò như một lá chắn, bảo vệ con người, động vật và thực vật khỏi bức xạ cực tím (UV) có hại từ mặt trời, đặc biệt là tia UV-B. Nếu không có tầng ozone, Trái đất sẽ trở thành một nơi rất khác: mùa màng thất bát và con người sẽ phải chịu đủ thứ bệnh tật từ đục thủy tinh thể đến ung thư da.

Sau khi được thông qua Nghị định thư Montreal đã tạo lộ trình để các nước thành viên loại bỏ 99% các chất làm suy giảm tầng ozone, bao gồm chlorofluorocarbon (CFC) và hydrochlorofluorocarbon (HCFC). Những chất làm lạnh này trước đây thường được tìm thấy trong tủ lạnh, máy điều hòa không khí, bọt, bình xịt và bình chữa cháy. Với việc thay thế các chất trên, tầng ozone của thế giới đã được đưa vào con đường phục hồi. Nếu thế giới tiếp tục tuân theo lộ trình này một cách nghiêm ngặt, các nhà khoa học ước tính tới năm 2066 tầng ozone sẽ trở lại tình trạng như trước năm 1866. 

Hầu hết các chất làm suy giảm tầng ozone cũng là nguyên nhân gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu. Bằng cách hạn chế các chất này và bảo vệ các bồn chứa carbon, như rừng, khỏi bức xạ cực tím gây hại, giao thức này dự kiến ​​sẽ ngăn chặn khoảng 0,5°C đến 1°C sự nóng lên vào cuối thế kỷ.

CFC và HCFC đã phần lớn được thay thế bằng hydrofluorocarbon (HFC). Mặc dù gây ít tác hại hơn nhưng HFC là khí nhà kính mạnh. Một số loại có khả năng giữ nhiệt cao hơn hàng nghìn lần so với CO2. 

Được thông qua vào năm 2016, Bản sửa đổi Kigali của Nghị định thư Montreal nhằm mục đích giảm dần sản xuất HFC trong 30 năm tới. Cho đến nay, 162 quốc gia và Liên minh Châu Âu đã phê chuẩn hiệp ước.

Việc loại bỏ HFC có thể ngăn chặn tới 0,5°C quá trình nóng lên của hành tinh vào cuối thế kỷ, điều đó có thể tạo ra sự khác biệt lớn trong quỹ đạo của biến đổi khí hậu. Theo Báo cáo khoảng cách phát thải mới nhất của Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP), nhiệt độ tăng 0,5°C sẽ làm tăng tần suất và mức độ nghiêm trọng của các hiện tượng nhiệt độ cực đoan, các sự kiện mưa lớn và hạn hán cục bộ.

Thu Thùy

Bạn đang đọc bài viết Đơn giản hóa thủ tục đăng ký sử dụng các chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0937 68 8419 Hoặc email: [email protected]

Cùng chuyên mục

Tin mới