Thứ ba, 24/02/2026 18:07 (GMT+7)
Thứ ba, 07/10/2025 18:24 (GMT+7)

Đào tạo học sinh, sinh viên năng khiếu và đào tạo nhân tài trong hệ thống giáo dục đất nước

Theo dõi KTMT trên

Nhân dịp ngành Giáo dục vừa có mùa khai giảng với nhiều khí thế mới, GS.TS Hoàng Xuân Cơ có bài viết tìm hiểu các văn bản mới về giáo dục và nghĩ về những kỷ niệm lớp Toán đặc biệt (chuyên Toán) khóa 1 ở Khoa Toán, Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1965-1967.

Mở đầu

Ngành Giáo dục vừa có mùa khai giảng với nhiều khí thế mới, đến từ hàng loạt chế độ ưu đãi của Nhà nước với cả ThầyTrò, đặc biệt là ở cấp phổ thông. Lương giáo viên có nhiều thay đổi quan trọng trong năm 2025 và các năm tiếp theo, đã có bảng lương mới, bổ sung hệ số lương đặc thù, tăng lương cơ sở từ 1/7/2024 và đề xuất tăng mức phụ cấp ưu đãi nghề. Dự kiến, lương giáo viên có thể tăng từ 2-7 triệu đồng/tháng tùy theo bậc học và chức danh, đồng thời có nhiều chính sách mới hỗ trợ đời sống và điều kiện làm việc cho đội ngũ nhà giáo.

Học sinh phổ thông công lập tại Việt Nam được miễn học phí từ năm học 2025-2026. Quyết định này được Bộ Chính trị đưa ra và được Quốc hội thông qua vào ngày 26 tháng 6 năm 2025. Miễn học phí áp dụng cho trẻ em mầm non, học sinh phổ thông và người học chương trình giáo dục phổ thông trong các cơ sở giáo dục công lập trên toàn quốc.

Hiện có nhiều văn bản mới của Đảng. Nhà nước được ban hành nhằm đưa sự nghiệp giáo dục lên tầm cao mới. Đã có nhiều bài viết về những đổi mới do các quyết định mới được ban hành nên trong bài viết này chúng tôi chỉ nêu một khía cạnh nhỏ, đó là đào tạo học sinh, sinh viên năng khiếu và đào tạo nhân tài trong hệ thống giáo dục đất nước.

Chúng tôi đã cố gắng tiếp cận các văn bản như Luật Giáo dục 2019 (sau đây gọi tắt là LGD2019); Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 (sau đây gọi tắt là NQ71); Nghị định số: 142/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 (sau đây gọi tắt là NĐ145); Bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 80 năm truyền thống ngành Giáo dục và khai giảng năm học 2025-2026 (ngày 5/9/2025) và một số tài liệu khác.

Một sự kiện khác có liên quan đến quá trình đào tạo năng khiếu nói chung và năng khiếu toán nói riêng vừa mới xảy ra, đó là chương trình “Về nguồn” đầy ý nghĩa tại xã Vạn Phú, tỉnh Thái Nguyên nhân kỷ niệm 60 năm Truyền thống chuyên Đại học Tổng hợp và 15 năm thành lập Trường THPT Chuyên Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội). Tại đây, năm 1965 đã đón nhận học sinh lớp Toán đặc biệt (chuyên toán) khóa 1 (A0K1) của khoa Toán trường Đại học Tổng hợp về sơ tán và học tập.

Đào tạo học sinh, sinh viên năng khiếu và đào tạo nhân tài trong hệ thống giáo dục đất nước - Ảnh 1

Bia kỷ niệm về nơi các lớp Toán đặc biệt (A0) đã học trong thời gian sơ tán (1965-1969) đặt tại Trường Tiểu học Vạn Yên, xã Vạn Phú tỉnh Thái Nguyên.

Tác giả bài viết cũng được tham gia chuyến về nguồn này vì là một trong số học sinh khóa 1. Phải chăng đây cũng là minh chứng cho thấy sự nhìn xa, trông rộng của lãnh đạo đất nước nhằm giúp những học sinh có năng khiếu có thể phát huy tài năng, rèn luyện kỹ năng để vươn tới những đỉnh cao trong các lĩnh vực được đào tạo.

Những điều này xin được bàn luận sâu hơn trong các phần sau.

Đào tạo học sinh, sinh viên năng khiếu và đào tạo nhân tài trong hệ thống giáo dục đất nước - Ảnh 2

Đoàn cán bộ, học sinh, cựu học sinh tham gia đợt về nguồn của Trường THPT Chuyên Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) chụp ảnh cùng cán bộ địa phương trước đền Danh nhân Lưu Nhân Chú tại xã Vạn Phú, tỉnh Thái Nguyên.

I. Về trường chuyên lớp chọn

Trong một bài viết trước đây bàn về triết lý giáo dục đăng trên Tạp chí Kinh tế môi trường điện tử 4 ngày liền, mỗi ngày một bài (từ ngày 27/12 đến 30/12/2024), chúng tôi đã đề xuất triết lý giáo dục phổ thông là “giúp học sinh nhận biết và tạo điều kiện tối đa để các em phát huy hết năng lực, năng khiếu của mình, giúp định hướng cho quá trình học tập, lao động sau khi tốt nghiệp phổ thông”. Tương tự như vậy, triết lý cần trong giai đoạn đào tạo nghề nói chung, bao gồm cả đào tạo đại học, sau, trên đại học là: “đào tạo nghề nói chung và đào tạo đại học nói riêng phải gắn với nghề nào đó trong xã hội và sinh viên tốt nghiệp ra có thể bổ sung cho lực lượng lao động của ngành được học. Vậy nên, đào tạo đại học là đào tạo con người có đủ kỹ năng, kiến thức gia nhập lực lượng lao động của ngành được đào tạo”.

Tất nhiên, trong thực tế, có thể học xong trường nghề/đại học, sinh viên chưa được tham gia hàng ngũ người lao động ngay hoặc làm trái nghề, nhưng kiến thức thu được của họ sẽ giúp họ tham gia các hoạt động kinh tế mới cho kết quả cao hơn. Một học sinh học rất giỏi ở trường chuyên, thậm chí đạt giải quốc tế nhưng rồi chuyển sang kinh doanh, lập công ty sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ cũng sẽ thành đạt và họ không phủ nhận kiến thức thu được trong hệ thống giáo dục đã giúp họ rất nhiều.

Chúng ta đã chứng kiến nhiều phát minh của các nông dân/người dân (được coi là không có bằng cấp gì nhiều) đã sản xuất được máy làm đất, máy tuốt hạt, máy cấy, thậm chí là trực thăng, tàu ngầm mini và nhiều người cho rằng, chẳng cần học nhiều, chẳng cần bằng cấp, phòng thí nghiệm to tát gì vẫn sáng chế, phát minh được như thường. Thật ra, trong các bài viết đã nêu [1], chúng tôi phần nào đã đề cập vấn đề này khi cho rằng, ngoài học trong hệ thống giáo dục chúng ta còn học trong xã hội nên có thể họ không được học bài bản để có bằng Trung cấp, Cao đẳng, bằng Đại học, trên đại học nhưng họ học trong sách vở, học theo kiểu truyền miệng, cầm tay chỉ việc và bằng năng lực, trí thông minh và cần cù làm việc của mình họ có thể thành công trong một số trường hợp. Nếu Nhà nước phát hiện sớm, giúp họ học bài bản thì có thể họ sẽ phát huy được hết tài năng, phẩm chất của mình nhằm tạo ra được sản phẩm có ích cho xã hội.

Trong điều kiện đặc biệt, đã có những người anh hùng thực sự, vượt qua hạn chế về kiến thức hạn hẹp do không/chưa được đi học để vươn lên, tự học, tự nghiên cứu để nhanh chóng có đủ kiến thức thực hiện những công việc đòi hỏi tính kỹ thuật cao.

Một trường hợp điển hình là Anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Văn Bảy, tên thật là Nguyễn Văn Hoa, là con thứ bảy trong gia đình (Bảy A - do đơn vị có 2 người trùng tên), quê ở Đồng Tháp, mới học xong lớp 3 và đã được phổ cập từ lớp 4 lên lớp 10 tại Trường bổ túc văn hóa Lạng Sơn (có giai thoại học 7 ngày lên 7 lớp) để được tham gia học lái máy bay tiêm kích phản lực hiện đại và dùng máy bay Mig 17 do Liên Xô sản xuất (được coi là thua kém nhiều mặt so với máy bay Mỹ cùng thời) bắn rơi tới 7 máy bay Mỹ, có cả 5 chiếc F-4, loại máy bay tiêm kích hiện đại nhất của Mỹ tham chiến tại Việt Nam. Đã nhiều lần chính anh Bảy đã nêu khó khăn vì kiến thức hạn chế nhưng do quyết tâm và khổ luyện nên mới có được chiến công vang dội như vậy. Ngày nay, đất nước đã có hệ thống giáo dục đầy đủ các cấp học, đầy đủ điều kiện để mọi người đến trường thì chắc không còn trường hợp nào bị thiếu học như Anh hùng Nguyễn Văn Bảy nữa.

Như vậy, ngoài việc được đào tạo tại hệ thống đào tạo bài bản còn có tự học/tự đào tạo qua nhiều hình thức. Nhất là trong thời đại hiện nay, khi mà các phương tiện dạy học trực tuyến, sử dụng công nghệ hiện đại cung cấp bài giảng/tài liệu qua mạng đang được phổ biến, người học có thể học ở mọi nơi có sóng mạng di động, chỉ với một phương tiện thu thông tin trên mạng (đơn giản nhất là một máy tính thông minh) và mọi lúc khi tải bài giảng vào máy của mình.

Quả thật, tôi cảm thấy rất may mắn là với trên 48 năm giảng dạy, chỉ có vài năm cuối là có nhiều thông tin bài giảng trên mạng còn phần lớn tài liệu giảng dạy là các sách giáo khoa và sách tham khảo, chuyên khảo. Vì vậy, nhìn chung những gì truyền đạt trên lớp của tôi phần lớn là mới đối với sinh viên nên nhìn chung sinh viên chăm chú lắng nghe, còn bây giờ, sinh viên có thể tải nhiều tài liệu trên mạng, trong đó có nhiều kiến thức cập nhật nên rất mới và rất khó. Khi đó nhiều kiến thức sinh viên đã biết nên nếu bài giảng của thầy không có gì mới hơn sẽ nhàm chán và sinh viên không còn hứng thú nghe giảng. Vì vậy, giảng dạy bây giờ phải thay đổi nhiều.

Khi được sang Đại học Indiana, Mỹ dự học một môn để về dạy cho các lớp sinh viên hệ Tiên tiến ngành môi trường, tôi thấy cách giảng dạy của họ đã được thay đổi, không còn nhiều thuyết trình/giảng liên hồi của thày nữa mà trước mỗi buổi học, thầy giáo đưa ra chủ đề sẽ được đề cập, yêu cầu sinh viên chuẩn bị và cử (hoặc theo ứng cử) một số em đứng lên trình bày trước lớp, sau đó là thảo luận chung và cuối cùng thầy giáo tóm tắt lại những ý chính cần ghi nhận. Tôi lúc đó cũng ngồi dự học nên cũng được thầy giáo cử nói về một số chủ đề, có cả chủ đề liên hệ với điều kiện Việt Nam và vì tôi là người mới nên thầy cung cấp tài liệu, hướng dẫn tôi chuẩn bị chu đáo nên mặc dù tiếng Anh chưa chuẩn tôi vẫn hoàn thành và được thày khen. Tôi cho đây là cách các thầy “quá khôn”, đẩy quá trình “giảng/trình bày” cho sinh viên còn mình chỉ ngồi đánh giá.

Khi về nước, tôi đã cố gắng áp dụng nhưng rất không may là sinh viên học ở Việt Nam không mặn mà với cách học này nên nhiều khi họ không chuẩn bị, không trình bày (có thể mặc nhiên coi đây là nhiệm vụ của giảng viên) nên không thành công. Qua tham khảo trên mạng, tôi thấy đã có thầy, có trường, đặc biệt là các trường quốc tế ở Việt Nam đã áp dụng rất thành công cách dạy và học này. Có lẽ, cần nhanh chóng nhân rộng ra các trường khác trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Tuy nhiên, cũng phải nêu ra cái khó đối với giảng viên khi áp dụng phương pháp giảng dạy, đó là kiến thức của thầy phải rộng, vững, phải luôn được cập nhật mới có thể điều hành được buổi học và trả lời các câu hỏi của sinh viên.

Nói như vậy để thấy, ngay sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, miền Bắc nước ta đã thoát khỏi sự đô hộ của thực dân, phong kiến, nhân dân được sống trong thể chế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Bác Hồ lãnh đạo và một nền giáo dục mới được thành lập, tạo điều kiện cho mọi công dân được tiếp cận giáo dục theo điều kiện cụ thể hiện có.

Đảng ta (lúc này là Đảng Lao động Việt Nam và sau là Đảng Cộng sản Việt Nam) và Nhà nước đã từng bước xây dựng hệ thống giáo dục với hai mục tiêu rất rõ ràng là: (1). Nâng cao trình độ kiến thức văn hóa cho nhân dân và (2). Tạo nguồn lao động có tay nghề, trình độ ngày một cao cho phát triển kinh tế và quản lý xã hội. Để thực hiện mục tiêu thứ hai, Nhà nước ta đã sớm có kế hoạch đào tạo mang tính đặc thù, dành cho các học sinh có năng khiếu từ sớm như mở các lớp dạy năng khiếu thể thao, năng khiếu nghệ thuật (hát, múa, biểu diễn,…) và cả năng khiếu các môn học như Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Văn học,… Những câu lạc bộ thể tao, nghệ thuật, chuyên môn cũng được thành lập để tập hợp các học sinh năng khiếu đến học, sinh hoạt.

Trong đó, một loạt trường chuyên, lớp chọn đã được thành lập, và có lúc đã có những ý kiến rất khác nhau về có cần thiết thành lập các trường, lớp này không? Những ý kiến phản biện cho rằng bên cạnh thành lập các trường này phải chú trọng đến đầu ra khi học sinh ra đời, đi làm, kiếm sống. Liệu họ có phục vụ ở Việt Nam hay không hay lại phục vụ dài hạn ở nước ngoài hay đào tạo chuyên toán nhưng sau đó học sinh có chọn ngành toán để học lên đâu? Tuy nhiên, cho đến nay, phần lớn ý kiến vẫn ủng hộ việc đào tạo chuyên nhưng phải có thay đổi cho phù hợp với từng giai đoạn và tạo điều kiện để sinh viên giỏi ra trường có thể phục vụ, làm việc trên đất nước của mình.

Tôi rất thích cách so sánh/ví von kiểu suy luận toán học của GS.TSKH Trần Văn Nhung: “Chúng ta đều biết, trong tự nhiên, trong khoa học và công nghệ, mọi vật muốn bay được, chuyển động nhanh trong không gian và môi trường được buộc phải có hình khí động học. Nói nôm na là nó phải có hình mũi tên, hòn đạn, hình kim tự tháp (pyramid) nhọn đầu. Vì thế một hê thống đào tạo, giáo dục, kinh tế… muốn năng động và phát triển nhanh cũng phải có hình khí động học. Từ cổ chí kim, từ đông sang tây, loài người đều phải theo quy luật ấy”. Phải chăng cái đầu nhọn ấy của hệ thống giáo dục chính là đào tạo học sinh năng khiếu ở phổ thông, tiếp đến là đào tạo hệ cử nhân chất lượng cao, hệ cử nhân tiên tiến và đào tạo trên đại học?

Là một người học lớp chuyên toán đầu tiên ở Khoa Toán - Trường Đại học Tổng hợp trong 2 năm, lớp 9 và lớp 10 hệ phổ thông 10 năm vào các năm 1965-1967 (lớp A0K1) và đã qua 60 năm nhìn lại bạn bè mình, nhìn lại những gì thế hệ học sinh chuyên Toán làm được (qua thông tin đại chúng và qua tiếp cận thực tế), tôi xin kể lại đôi điều nhằm làm sáng tỏ hơn những gì đã nêu ở trên.

Trong Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ngày 14/9/1965 về việc mở những lớp cấp 3 phổ thông dạy học sinh có năng khiếu về toán do Phó Thủ tướng Phạm Hùng ký (có thể tham khảo toàn văn trong [2]) đã nêu rõ:

Điều 1. Cho phép Bộ Giáo dục mở tại trường Đại học Tổng hợp và ở các tỉnh một số lớp cấp 3 phổ thông dạy học sinh có năng khiếu về Toán.

Điều 4. Chương trình của những lớp cấp 3 phổ thông dạy học sinh có năng khiếu về Toán mở tại trường Đại học Tổng hợp và ở các tỉnh là chương trình cấp 3 phổ thông, có thêm một số giờ về toán và ngoại ngữ”.

Tôi nhớ rằng, hồi ấy có các kỳ thi học sinh giỏi Toán khi học hết cấp II (lớp 7) nhưng theo Quyết định này thì học sinh vào học “lớp cấp 3 phổ thông dạy học sinh có năng khiếu về Toán” lại là học sinh đã học xong lớp 8 ở các trường phổ thông (Điều 3). Với tôi, đây là điều quá may mắn vì hè năm lớp 8, được nhà trường gọi đi thi về Toán mà không biết thi để làm gì nhưng vẫn đi thi và may mắn đỗ và được gọi đi học.

Để tạo điều kiện cho học sinh có thể yên tâm học tập, trong Điều 5 của Quyết định, Nhà nước đã cấp học bổng cho học sinh học tại Trường Đại học Tổng hợp là 20 đồng/tháng (tiền lúc ấy) và học sinh ở các tỉnh là 9 đồng/tháng. Học sinh học tại Trường Đại học Tổng hợp còn được hưởng các chế độ như sinh viên thời bấy giờ (được ở nội trú, được hưởng chế độ thuốc men, vệ sinh phí, vui khỏe). Vì vậy, ở quê tôi họ coi tôi đã “đi thoát ly”, được Nhà nước nuôi ngay từ khi mới 15 tuổi.

Nhắc lại điều này để thấy Nhà nước sớm đã thấy rõ ý nghĩa của việc đào tạo học sinh có năng khiếu nói chung và năng khiếu Toán nói riêng. Và, trong suốt 60 năm truyền thống chuyên Toán của Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau này là Trường chuyên Khoa học Tự nhiên thuộc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, chính sách đối với các sinh viên đã có nhiều thay đổi.

GS.TSKH Trần Văn Nhung, một trong vài người thành đạt nhất lớp tôi (nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, nguyên Tổng thư ký Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước) đã có bài viết [2] nêu bật thành tích của lớp A0K1 nên xin không nhắc lại, chỉ nêu vài nét về đào tạo (dạy và học) ở lớp A0K1 và những kỷ niệm của riêng tôi để minh họa.

Trước hết, về chương trình đào tạo và đội ngũ thầy cô, do chưa có chương trình riêng nên chúng tôi vẫn được học y như học phổ thông, nghĩa là học tất cả các môn, chỉ có Toán và Ngoại ngữ được học nhiều hơn nhưng không ảnh hưởng số giờ học các môn khác. Điều khác biệt là các thầy, cô đến giảng là các Giảng viên các Khoa và các Bộ môn trong trường như Khoa Vật lý, Khoa Hóa học, Khoa Văn, Khoa Sử… Các thầy cô ở các Bộ môn Thể dục, Ngoại ngữ (chúng tôi được học tiếng Nga). Khoa Toán đã cử các thầy nổi tiếng như thầy Hoàng Tụy, thầy Hoàng Hữu Đường, thầy Phan Đức Chính… xuống dạy. Ngay thầy Lê Văn Thiêm rất bận (thầy là Hiệu phó Trường Đại học Tổng hợp khi đó) nhưng cũng bố trí xuống giảng/nói chuyện về một số vấn đề Toán học hiện đại. Quả thật, các thầy, cô là những người rất giỏi chuyên môn và có phong cách giảng dạy khác biệt so với các thầy, cô mà chúng tôi được học ở các trường phổ thông. Chẳng hạn, các thầy, cô từ khoa Văn sang dạy, nói chuyện văn học là các thầy, cô nổi tiếng như thầy Hoàng Như Mai, thầy Nguyễn Lộc, cô Lê Hồng Sâm…

Các thầy, cô dạy hay đến nỗi chúng tôi chỉ biết nghe, ngẫm mà thấy thích nhưng nhiều khi nó vượt quá tầm của chúng tôi, đặc biệt là khi chúng tôi phải làm bài tập làm văn thì hầu như không áp dụng được. Tôi thuộc loại kém văn nhất lớp, chỉ toàn điểm 2 và 3 (hệ điểm 5), đến nỗi cuối năm lớp 10, thầy giáo chủ nhiệm lớp phải nhờ thầy dạy văn phù đạo cho tôi để khỏi thi trượt môn này.

May mắn là cuối lớp 10, một thầy giáo trẻ của Khoa Văn là thầy Đinh Xuân Dũng (sau này là Giáo sư, từng phục vụ trong quân đội với chức Đại tá, Phó Cục Trưởng Cục Quân huấn và Nguyên Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương) được cử sang dạy lớp tôi để giúp học sinh có thể làm tốt tập làm văn. Thầy Dũng nhận lời phụ đạo tôi 2 buổi, mỗi buổi khoảng 1 giờ. Buối đầu, thầy khái quát hóa lại thế nào là bài tập làm văn, cấu trúc ra sao, tìm ý, chọn từ ngữ, viết câu như thế nào rồi ra cho tôi 2 đề về nhà. Lúc đó, tôi cũng rất sợ thi trượt nên cũng làm đủ 2 bài nộp thầy. Sau khi xem 2 bài xong, thầy gặp tôi buổi thứ 2 và chỉ ra yếu điểm nhất của tôi là “cậu làm văn như làm toán” và thầy lấy ngay ví dụ:

“Khi làm toán thì cần ngắn gọn, chẳng hạn chỉ là 2 cộng 2 bằng 4. Nhưng để đi đến câu “chốt” này có thể sử dụng các câu bổ trợ, chẳng hạn như đưa ra câu hởi: 2 cộng 2 bằng mấy, có bằng 3 được không, câu trả lời là không bằng 3 mà lớn hơn 3. Rồi lại hỏi có bằng 5 được không và trả lời không bằng 5 mà nhỏ hơn 5, tiếp đến đặt câu hỏi 2 cộng 2 có phải số nguyên dương không và trả lời đúng là số nguyên dương. Cuối cùng mới kết luận 2 cộng 2 là số nguyên dương lớn hơn 3 và nhỏ hơn 5, vậy chỉ có thể là 4. Như vậy sẽ được đoạn văn dài và hay hơn vì sử dụng được cách đặt câu hỏi và trả lời làm rõ hơn kết quả, nói cách khác làm văn cũng là phân tích làm rõ, khẳng định một vấn đề có thể sử dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau, có thể dùng cách tiếp cận gián tiếp, cách đặt câu hỏi, cách đặt giả thiết,… và cả cách chọn ngôn ngữ, cách đặt câu chữ đảm bảo tính logic, tính hình tượng làm cho bài văn hay hơn, súc tích hơn”.

Quả thật, với ví dụ này thì tôi đã “ngộ” ra rất nhiều, đã áp dụng trong bài tập làm văn cuối cùng được thầy khen và cho điểm 4, điểm cao nhất môn văn cấp 3 của tôi, lúc thi tốt nghiệp tôi cũng được hẳn điểm 4. Mới đây, khi họp lớp A0K1, chúng tôi liên hệ mời thầy Đinh Xuân Dũng và thầy đã đến dự. Khi tôi kể lại kỷ niệm này và cảm ơn thầy thì thầy cười và nói vui: “cậu đã có tố chất rồi tớ chỉ khơi gợi lên thôi”. Lần nữa xin được tri ân thầy Dũng và những thầy cô khác đã giảng dạy cung cấp cho chúng tôi những bài học hay và bổ ích.

Trong suốt thời cắp sách đi học của tôi và cả sau này tham gia nhiều lớp học, tôi hầu như không quá quan tâm kiểm tra, thi, tổng kết được điểm mấy mà tôi luôn tin thầy cô giáo cho điểm mấy đều có lý do cả. Xin kể câu chuyện học môn Hóa học của tôi ở lớp A0K1 với thầy Nguyễn Xuân Dũng (sau này là GS. nổi tiếng của khoa Hóa, Trường Đại học Tổng hợp - Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN). Khi thầy kiểm tra lần đầu, tôi làm sai ngớ ngẩn, thầy gạch chéo, phê: “sai cơ bản”, cho điểm 2 và sau này các bài kiểm tra của tôi thầy cũng cho điểm kém. Có lần, anh lớp phó lấy bài của tôi lên nói với thầy là lần này tôi làm đúng, thầy chỉ nói “thế à” rồi xóa điểm 2 và cho điểm 3. Chính vì nhìn vào điểm kiểm tra, thi học kỳ của tôi mà thầy chủ nhiệm lớp đề nghị thầy phụ đạo môn hóa cho tôi nhưng thầy nói không cần thiết. Sau này một lần gặp thầy, tôi kể về kỷ niệm này thì thầy cũng nhớ ra: “thế là cậu à” và hỏi tôi có hận thầy không.

Tôi trả lời là cảm ơn thầy và khoe thi tốt nghiệp được điểm 4. Thầy cười và nói để tôi biết là, khi thầy chủ nhiệm đặt vấn đề phụ đạo cho tôi, thầy đã khẳng định tôi sẽ không trượt vì thầy cho điểm kém cũng là để cảnh báo tôi học nghiêm chỉnh hơn thôi. Và lúc này tôi mới hiểu hết tâm ý của thầy và tự thấy suy nghĩ của tôi về “điểm” thi/kiểm tra là đúng. Sau này trở thành giảng viên, có sinh viên hỏi tôi là điểm do thầy cho thì thầy cứ cho điểm cao lên nhưng tôi cố gắng xây dựng được cách cho điểm đảm bảo công bằng, theo trình độ từng người và vì vậy cũng rất đắn đo khi cho điểm kém hoặc điểm khá giỏi. Tôi cho điểm giỏi để học sinh có thể tự hào, còn cho điểm kém đủ để học sinh nhận ra những yếu kém để cố gắng hơn.

Như vậy có thể nói, chúng tôi được học các thầy cô giỏi chuyên môn, tâm huyết truyền đạt những kiến thức bổ ích, không chỉ để thi cử khi còn trên ghế nhà trường mà còn cho cả sau này khi hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

Do thời gian học chuyên A0K1 chúng tôi không được “luyện thi” nên đợt thi học sinh giỏi toán năm 1967 (năm lớp 10) lớp chúng tôi không ai đạt giải thì phải. Cả lớp buồn nhưng rồi cũng chấp nhận. Sau này, khi ở lại làm giảng viên của Khoa Địa lý - Địa chất, tôi tìm hiểu thì biết Khoa Toán cùng Trường Đại học Tổng hợp cũng đã rút kinh nghiệm về phương pháp truyền đạt cho học sinh lớp chuyên và đã mời được nhiều thầy giáo giỏi phổ thông lên dạy, luyện nên khóa sau đã chiếm hầu hết giải học sinh giỏi toán Miền Bắc năm 1968.

Là lớp chuyên đầu tiên nên khi tốt nghiệp phổ thông, lớp chúng tôi cũng chỉ được chọn 1/3 (tỷ lệ chung cả miền Bắc) số tốt nghiệp đi học tập ở nước ngoài và sau này có thêm một số người bổ sung nhưng cũng chỉ có một nửa lớp được đi nước ngoài (18 người), còn lại 18 người học trong nước. Đặc biệt, trong 18 người được học trong nước thì cũng không theo nguyện vọng cá nhân mà theo phân phối của nhà trường, với 10 người học Khoa Toán, 4 người học Khoa Vật lý, 2 người học Khoa Địa lý - Địa chất (trong đó có tôi học ngành Khí tượng và anh Cao Công Tường học Địa chất), 1 người học Khoa Sinh học và 1 người học Khoa Hóa học. Mới đầu sang Khoa Địa học tôi cũng rất buồn, có lúc muốn xin về học Đại học Sư phạm Vinh, đang sơ tán ở Thanh Hóa, cho gần nhà nhưng rồi được Giáo sư nổi tiếng, Chủ nhiệm khoa, GS. Nguyễn Văn Chiển động viên nên hai người từ A0K1 xuống học đều tốt nghiệp loại tốt và đều được giữ làm giảng viên của Khoa.

Sau khi tốt nghiệp đại học, mỗi người mỗi ngả nhưng đều làm việc trong các cơ quan nhà nước. Một số là giảng viên các Trường Đại học, Cao đẳng; một số đi bộ đội, tham gia quân đội (lính khoa học cả) và phục vụ trong nhiều ngành khác nhau. Hiện nay, sau 60 năm, lớp A0K1 vẫn sinh hoạt lớp đều, kết nối được tất cả những người sống ở các địa phương khác nhau, thậm chí có cả câu lạc bộ bia ở Quán Thánh quy tụ nhiều người tụ tập vào chiều thứ tư hàng tuần. Trong những buổi sinh hoạt lớp, một câu hỏi luôn được đặt ra và trả lời, đó là chúng ta học được gì, nhận được gì ở hai năm học chuyên toán A0K1. Có lẽ mọi người đều thống nhất nhận định, cái lớn nhất mà mọi người học được từ các người thầy là tư duy khoa học. Với tư duy này, mọi người đều vận dụng được để giải quyết nhiều vấn đề trong công việc và cuộc sống.

Một trong những người “va vấp, trải nghiệm” nhiều trong cuộc sống là anh Cao Công Tường (đã từng là Giảng viên đại học, cao đẳng, đi lao động ở nước ngoài, lập và lãnh đạo doanh nghiệp…) đã công nhận điều này và đã áp dụng thành công trong giải quyết nhiều loại công việc. Cũng xin lỗi anh Tường vì là cảm nhận của riêng tôi, nếu có gì chưa thật đúng thì xin đính chính sau. Một điều nữa là tình cảm có được trong các thành viên của lớp cho đến bây giờ vẫn bền chặt, mặc dù tính cách mỗi người rất khác nhau, rất cá tính. Khi thấy chúng tôi họp mặt thường xuyên ở quán bia Quán Thánh, có anh tò mò hỏi về nhóm và khi biết các thành viên đã quen biết 60 năm, từ khi vào học A0K1 năm 1965 thì tỏ ra rất ngưỡng mộ. Có lẽ mối quan hệ ngày một thân thiết hơn là một cố gắng của cả lớp và cũng là tấm gương đáng tự hào cho các con em mỗi thành viên.

II. Đào tạo nhân tài

Có lẽ ai cũng biết câu “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” của một danh sĩ thời thịnh trị nhà Lê: Thân Nhân Trung. Có thể hiểu “nguyên khí” là chất liệu ban đầu, nền tảng cốt lõi làm nên sự sống còn và phát triển của một sự vật, một đất nước, một dân tộc. Như vậy nguyên khí còn thể hiện sức mạnh của đất nước, nguyên khí mạnh, có nhiều người hiền tài trợ giúp thì đất nước thịnh vượng còn nếu vì lý do gì đó, nhân tài/hiền tài không được nhìn nhận, tận dụng thì đất nước sẽ gặp nhiều khó khăn trên con đường phát triển, thậm chí lụi tàn.

Vậy thì câu hỏi phải được đặt ra và tìm lời giải là: “Người tài, họ là ai, tìm họ ở đâu và làm sao để họ thể hiện, cống hiến tài năng tốt nhất cho đất nước và làm thế nào để tìm, hun đúc đào tạo để có những người hiền tài đáng quý này phục vụ quốc gia”. Chúng tôi cũng đã có một số bàn luận về vấn đề này và trình bày trên một bài viết đăng trên Tạp chí Kinh tế môi trường ngày 28/9/2023, mọi người có thể tham khảo [3].

Trong bài viết này chỉ đề cập tới một số nỗ lực chọn, đào tạo nhân tài mà chúng tôi được biết và có tham gia, đó là các chương trình đào tạo cử nhân chất lượng cao, chương trình đào tạo cử nhân tài năng, chương trình tiên tiến đào tạo cử nhân, chương tình đào tạo liên kết với các tổ chức nước ngoài, chương trình đào tạo sau/trên đại học. Nhìn chung các chương trình này đều có mục tiêu là phát hiện và tạo điều kiện học tập tốt nhất để sinh viên trau dồi kiến thức ở mức cao nhất có thể và đồng thời hướng sinh viên vào nghiên cứu khoa học theo những định hướng, những lĩnh vực đang được đất nước cũng như thế giới quan tâm.

Ngày 22/12/2022, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN (ĐHKHTN, ĐHQGHN) long trọng tổ chức kỷ niệm 25 năm thành lập hệ đào tạo cử nhân khoa học tài năng (CNKHTN). Đây cũng là trường đại học đầu tiên của Việt Nam thực hiện một cách chính quy công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân tài ở bậc đại học với Đề án “Đào tạo cử nhân khoa học tài năng” từ năm 1997. Mục tiêu lâu dài của Đề án này là xây dựng mô hình và quy trình phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng tài năng thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên có chất lượng cao theo chuẩn mực quốc tế. Những thành tựu của quá trình đào tạo CNKHTN của Nhà trường cũng đã được nêu khá rõ trong buổi lễ kỷ niệm này (xem cụ thể trong [4]).

Tôi nhớ ngành đào tạo cử nhân tài năng đầu tiên là ngành toán học và địa chất học, hai ngành khoa học cơ bản rất cần cho phát triển đất nước nhưng lúc bấy giờ khó tuyển được sinh viên giỏi. Vì vậy, Đề án được ĐHQGHN phê duyệt cấp kinh phí cho xây dựng cơ sở vật chất, mời giảng viên giỏi quốc tế và cấp học bổng cho sinh viên theo học. Tôi có băn khoăn, không biết sinh viên các hệ đào tạo tài năng (trong đó có CNKHTN) hiện nay có được cấp học bổng hoặc có nguồn học bổng nào hỗ trợ không. Rất may, tôi đọc được một bài viết của tác giả Thanh Hằng đăng trên báo điện tử VnExpress ngày 13/6/2025 cho biết: Sinh viên hệ cử nhân khoa học tài năng dự kiến được cấp học bổng thêm 5 triệu đồng một kỳ (5 tháng). Đây là những em được chọn lọc từ nhóm từng đạt giải quốc gia, quốc tế hoặc có điểm thi đầu vào cao. Mức học bổng khuyến khích học tập cao nhất hiện nay là 1,6 triệu đồng mỗi tháng, với một sinh viên [5]. Ngoài ra Nhà trường đã tìm được nhiều nguồn học bổng khác cho các sinh viên có thành tích cao trong học tập, NCKH.

Tôi rất may mắn được giảng dạy cho các lớp sinh viên thuộc các hệ CNKHTN, cử nhân chất lượng cao, hệ tiên tiến (dạy bằng tiếng Anh) ngành Khoa học môi trường. Quả thật sinh viên được chọn có trình độ tư duy tốt, thông minh, nhanh nhạy và không ngại tương tác với giảng viên. Ở các buổi học của các hệ này, tôi đã phần nào áp dụng được cách làm việc nhóm, trao đổi thảo luận cùng sinh viên và nhiều khi phát hiện những ý tưởng rất mới, rất hay của sinh viên. Tôi đã trình bày những nội dung liên quan đến các môn học chính như Kinh tế mội trường; Đánh giá tác động môi trương; Khí tượng-Khí hậu và làm giảng viên hướng dẫn sinh viên làm khóa luận tốt nghiệp.

Khi ra đề thi, chấm thi tôi cũng phải suy nghĩ kỹ, có những câu “khó” hơn để đánh giá đúng trình độ sinh viên và chính tôi cũng có lúc ngạc nhiên khi sinh viên có câu trả lời thông minh, hoàn hảo các câu hỏi thi khó. Với những bài thi như vậy, tôi đã mạnh dạn cho điểm xuất sắc để động viên các em. Chính các sinh viên lớp trước đã giúp tôi chuẩn bị tốt hơn bài giảng cho sinh viên các lớp sau và ngay khi đang học các sinh viên này đã có thể tham gia các đề tài nghiên cứu của tôi và làm rất tốt công việc được giao. Tôi cũng đã viết thư giới thiệu để các sinh viên giỏi đi đào tạo ở nhiều nước để nhận kiến thức cao hơn và nhiều bạn đã trở về thành đồng nghiệp của mình. Đây là điều làm tôi có thể tự hào.

Tôi cũng có trăn trở là nhiều sinh viên khi đạt trình độ học vấn cao ở nước ngoài đã chọn ở lại làm việc ở các cơ quan của nhiều nước. Về vấn đề này, hiện nay đã có chủ trương rất rõ của Đảng, Nhà nước ta, đó là làm việc ở nước ngoài cũng được nhưng khi cần thì Nhà nước sẽ kêu gọi, tạo điều kiện để tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước. Trong các buổi lên lớp, thày và trò chúng tôi đã bàn luận, trao đổi, đôi khi tranh luận về nhiều vấn đề mới và cùng nhau làm rõ khả năng áp dụng cho Việt Nam. Rất tiếc, nhiều vấn đề mới bàn luận lúc ấy không được đưa vào áp dụng nên chưa phát huy hết năng lực đội ngũ cán bộ.

Lấy ví dụ, khi thảo luận về các phương pháp cần dùng trong công tác đánh giá tác động môi trường (ĐTM), sinh viên đều thấy, chứng minh những ưu điểm của phương pháp mô hình hóa (modelling) hay phương pháp phân tích chi phí-lợi ích mở rộng (Extended cost-benefit analysis - ECBA) nhưng vì trong Luật Bảo vệ môi trừng (BVMT) không bắt buộc/khuyến khích áp dụng nên rất ít báo cáo ĐTM các dự án phát triển áp dụng. Hay khi thảo luận các công cụ kinh tế trong BVMT sinh viên rất thích thú nhưng trong thực tế, chúng ta áp dụng rất hạn chế nên chúng tôi (cả thày-trò)  đều rất bức xúc. Đặc biệt, khi làm khóa luân tốt nghiệp, làm luận văn cao học hay cả luận án tiến sĩ các em cũng không muốn chọn các vấn đề còn mới ở Việt Nam vì thiếu số liệu mà các em đã được tiếp cận.

Thay cho lời kết

Xin nêu một số cảm nghĩ của tôi về các vấn đề trình bày ở trên thay cho lời kết của bài viết này:

1. Có lẽ giờ đây không cần tranh cãi nhiều về việc nên hay không nên mở các trường chuyên lớp chọn mà tập trung phân tích, rút kinh nghiệm để các trường, lớp này phát huy hết tác dụng, phát huy được những năng khiếu, tài năng vốn có của học sinh phổ thông. Xin dẫn lại một ý trong mục 5 của Nghị quyết số 71-NQ/TW để thấy chủ trương của Đảng về vấn đề này:

"5. Tập trung xây dựng đội ngũ nhà giáo, cơ sở vật chất trường lớp đạt chuẩn, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông.

Đổi mới mô hình trường chuyên, trường năng khiếu để tập trung ươm tạo nhân tài quốc gia, mở rộng các lớp chuyên khối STEM/STEAM. Tăng cường việc dạy và học ngoại ngữ, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học và dạy ngôn ngữ của các nước láng giềng. Nâng chuẩn tiếng Anh cho giáo viên và học sinh các cấp học; bảo đảm đủ số lượng, trình độ đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và công nghệ, ứng dụng mạnh mẽ trí tuệ nhân tạo trong dạy và học tiếng Anh; tăng cường giảng dạy các môn học bằng tiếng Anh tại các nơi có điều kiện”.

2. Đào tạo nhân tài nhưng phải tạo điều kiện để họ có thể làm việc, phát huy hết tài năng phục vụ đất nước. Khi một số người tốt nghiệp các trường chất lượng cao ở nước ngoài nhưng không/chưa về nước làm việc cũng không nên coi là chảy máu chất xám mà nên coi là họ vẫn đang tích lũy thêm kiến thức và khi cần Nhà nước có thể thu hút, huy động phục vụ đất nước. Đây cũng là chủ trương rất đúng đắn và đang được triển khai từng bước cho từng lĩnh vực cụ thể. Trong một bài viết đăng trên Báo điện tử Hà Nội mới ngày 06/07/2025 đã nêu ý kiến của Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu thực hiện chủ trương này [6] như sau:

“Cụ thể, Tổng Bí thư Tô Lâm giao Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao khẩn trương xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách thu hút nguồn nhân lực, nhân tài khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong và ngoài nước, nhất là nhân lực chất lượng cao trong các ngành công nghệ mũi nhọn (trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, vật liệu mới...); có chính sách đãi ngộ đặc biệt (vượt khung lương, nhà ở, môi trường làm việc) để thu hút ít nhất 100 chuyên gia hàng đầu về nước làm việc. Việc này phải hoàn thành trong tháng 8-2025”.

3. Đào tạo nhân tài cần phải liên kết với các tổ chức, các nhà khoa học quốc tế. Cả Nhà nước và doanh nghiệp đều có thể mở ra những chương trình đào tạo dạng này ở Việt Nam, vấn đề là làm thế nào để thu hút giảng viên giỏi nước ngoài và sinh viên các nước (kể cả nước phát triển) đến giảng dạy và học tập. Nếu Nhà nước/Doanh nghiệp lập được Quỹ học bổng cho sinh nước ngoài sang nghiên cứu, học tập cùng sinh viên trong nước (chẳng hạn sinh viên hệ tiên tiến, học bằng tiếng Anh) thì hiệu quả đào tạo sẽ cao hơn rất nhiều. Tôi vẫn mong ước vào khuôn viên những Đại học lớn như ĐHQGHN, ĐHQG TPHCM, Đại học Bách khoa Hà Nội,… sẽ gặp không ít giảng viên, nhà khoa học, sinh viên nước ngoài đến nghiên cứu, học tập. Có thể học hỏi kinh nghiệm hòa nhập, đưa trình độ đào tạo đạt trình độ quốc tế và được quốc tế công nhận của nước láng giềng Malaysia và một số nước khác.

Tài liệu tham khảo

[1]. Hoàng Xuân Cơ, 2024, Suy ngẫm về triết lý giáo dục cần có của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới, Tạp chí Kinh tế Môi trường điện tử đăng vào các ngày từ 27/12 đến 30/12/2024.

[2]. Trần Văn Nhung, Sộp thành Nhà giáo, NXB Giáo dục VN, 2016.

[3]. Hoàng Xuân Cơ, Nan giải chuyện tìm và trọng dụng người tài, Tạp chí điện tử Kinh tế Môi trường đăng ngày 28/9/2023.

https://kinhtemoitruong.vn/nan-giai-chuyen-tim-va-trong-dung-nguoi-tai-81020.html

[4]. Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, 2022, Hệ cử nhân khoa học tài năng - 25 năm ươm mầm tài năng cho đất nước.

https://hus.vnu.edu.vn/tin-tuc-su-kien/tin-tuc-chung/he-cu-nhan-khoa-hoc-tai-nang-25-nam-uom-mam-tai-nang-cho-dat-nuoc-102723.html

[5]. Thanh Hằng ĐH, 2025, ĐH Khoa học Tự nhiên tăng học bổng cho sinh viên tài năng, Báo VnExpress đăng ngày 13/6/2025,

https://vnexpress.net/dh-khoa-hoc-tu-nhien-tang-hoc-bong-cho-sinh-vien-tai-nang-4898180.html

[6]. Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu thu hút ít nhất 100 chuyên gia hàng đầu về nước làm việc, Báo điện tử Hà Nội mới, đăng ngày 06/07/2025.

https://hanoimoi.vn/tong-bi-thu-to-lam-yeu-cau-thu-hut-it-nhat-100-chuyen-gia-hang-dau-ve-nuoc-lam-viec-708188.html

Hoàng Xuân Cơ

Bạn đang đọc bài viết Đào tạo học sinh, sinh viên năng khiếu và đào tạo nhân tài trong hệ thống giáo dục đất nước. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0937 68 8419 Hoặc email: [email protected]

Cùng chuyên mục

Giữa mùa xuân, vững bước tới tương lai
Tôi muốn mượn câu thơ trong bài “Trên miền Bắc mùa Xuân” của Tố Hữu làm tiêu đề cho bài viết trên số báo Xuân của Tạp chí Kinh tế Môi trường như một lời chào mừng năm mới với những hân hoan bước tới trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước.
VIỆT NAM KHÚC HÙNG CA
“Việt Nam Khúc hùng ca” là bản tráng ca về tình yêu đất mẹ, dòng máu Lạc Hồng và khát vọng vươn xa của doanh nhân Việt hôm nay – những con người mang trí tuệ, bản lĩnh và niềm tin đưa đất nước sánh vai cường quốc.
ĐÓN XUÂN MỚI
Bài thơ “Đón xuân mới” là lời chúc năm mới ấm áp, lan tỏa niềm tin, tinh thần vượt khó và khát vọng hướng tới tương lai tươi sáng.
BÀI THƠ TẶNG MẸ
“Bài thơ tặng mẹ” là lời tự sự xúc động về tình mẫu tử, niềm tin và hành trang yêu thương theo con suốt hành trình đời người.
Top 3 ngày đại cát để mở hàng, khai xuân năm 2026
Chọn ngày mở hàng không chỉ là phong tục, mà còn là bước khởi đầu chiến lược để "khai thông tài lộc". Cùng tìm hiểu những ngày đại cát năm Bính Ngọ để sự nghiệp bứt phá, "mã đáo thành công".

Tin mới

VIASEE nhận Cờ thi đua xuất sắc năm 2025
Liên Hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam vừa trao Cờ thi đua cho Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam, đơn vị xuất sắc trong phong trào thi đua năm 2025 của Liên Hiệp hội Việt Nam.