Thứ năm, 05/02/2026 08:18 (GMT+7)
Thứ năm, 05/02/2026 06:45 (GMT+7)

Kinh tế tư nhân với sự phát triển của đất nước

Theo dõi KTMT trên

Kinh tế tư nhân thúc đẩy tăng trưởng, song nếu thiếu kiểm soát có thể phát sinh tham nhũng, bóc lột và tổn hại môi trường, đòi hỏi những giải pháp quản lý phù hợp.

Tòa soạn Kinh tế Môi trường trân trọng giới thiệu phần tiếp theo (và hết) bài viết Kinh tế tư nhân với sự phát triển của đất nước. Bạn đọc có thể theo dõi bài viết trướcTẠI ĐÂY.

Kinh tế tư nhân với sự phát triển của đất nước - Ảnh 1

Làm gì để hạn chế mặt trái của KTTN

Xin thú thật: tác giả bài viết này không có được điều kiện tốt để nghiên cứu thật kỹ về KTTN nói chung và các doanh nghiệp tư nhân (DNTN) nói riêng, vì vậy, những gì trình bày sau đây được tổng hợp. Qua các tài liệu cho thấy, mặt trái của nền kinh tế tư nhân bao gồm tham nhũng và ảnh hưởng không chính đáng, nơi các tác nhân tư nhân hối lộ quan chức hoặc gây áp lực để được hưởng lợi; các tác động tiêu cực bên ngoài như thiệt hại môi trường hoặc cắt giảm việc làm, thường thấy trong các lĩnh vực như vốn cổ phần tư nhân; và các vấn đề trong nền kinh tế ngầm, bao gồm cả các hoạt động hợp pháp và bất hợp pháp che giấu chính quyền, chẳng hạn như trốn thuế. Ngoài ra, vẫn có thể diễn ra bóc lột người lao động bằng nhiều cách khác nhau như trả lương, thưởng không xứng với lao động họ bỏ ra, từ chối các phúc lợi của họ và tạo ra những bất lợi về mặt xã hội và kinh tế.

Ngay ở các quốc gia tư bản lâu đời, nơi KTTN đã có thời gian hoạt động rất lâu đời vẫn nảy sinh nhiều mặt trái, trong đó tham nhũng là một trong những mặt trái được đề cập nhiều nhất. Tham nhũng và ảnh hưởng không chính đáng của DNTN thường thể hiện qua hối lộ và gian lận đấu thầu, kể cả hối lộ quan chức nhà nước để có hợp đồng hoặc xin giấy phép thực hiện các dự án kinh tế.

Những vụ án tham nhũng của Việt Nam liên quan đến các DNTN gần đây nhất đều có thể lấy làm minh chứng, đó là vụ của bà Trương Mỹ Lan (Chủ tịch Tập đoàn Vạn Thịnh Phát) liên quan đến sai phạm tại Ngân hàng SCB với cáo buộc lừa đảo chiếm đoạt tài sản, rửa tiền và vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới cùng các tội tham ô tài sản, vi phạm quy định về cho vay và đưa hối lộ; hay vụ án tham nhũng nghiêm trọng xoay quanh Công ty cổ phần Tập đoàn Phúc Sơn của Nguyễn Văn Hậu thành lập diễn ra trong nhiều năm ở nhiều tỉnh, thành khác nhau.

Ở các nước khác, tham nhũng cũng xảy ra khá phổ biến và trong KTTN cũng xuất hiện nhiều, thể hiện đa dạng chẳng hạn như:

- Tham nhũng là những hành vi gian dối hoặc lừa đảo của những người có quyền lực, thường liên quan đến hối lộ.

- Tham nhũng đề cập đến một hình thức hoạt động tội phạm hoặc sự không trung thực. Nó đề cập đến một hành vi xấu xa của một cá nhân hoặc một nhóm. Đáng chú ý nhất, hành vi này xâm phạm quyền và đặc quyền của người khác. Hơn nữa, tham nhũng chủ yếu bao gồm các hoạt động như hối lộ hoặc biển thủ.

- Theo nghĩa đơn giản thì tham nhũng đồng nghĩa với có tội trong các hành vi tiêu cực, như hối lộ; thiếu chính trực; gian dối; không đáng tin cậy, giả dối. tính cách suy đồi; đồi trụy; độc ác; xấu xa.

- Tham nhũng là việc lạm dụng quyền lực được giao phó để trục lợi cá nhân, là một hình thức gian dối hoặc hành vi phạm tội do cá nhân hoặc tổ chức được giao nhiệm vụ thực hiện nhằm mục đích trục lợi hoặc lạm dụng quyền lực để trục lợi.

- Tham nhũng đề cập đến hành vi gian dối hoặc bất hợp pháp, đặc biệt là của những người có quyền lực, và nó gây hại cho xã hội bằng cách thúc đẩy bất bình đẳng và làm suy yếu lòng tin. Những điểm chính bao gồm: Tham nhũng dẫn đến việc sử dụng sai mục đích các nguồn lực và ngân sách công. Nó làm gia tăng nghèo đói, trì hoãn phát triển và tiếp tay cho các hành vi bất công.

Ngoài tham nhũng, các DNTN và hoạt động của chúng còn có thể  gây ra nhiều tiêu cực như: Tìm cách chiếm đoạt nguồn lực nhà nước (các công ty quyền lực có thể làm sai lệch chính sách và quá trình ra quyết định của chính phủ để tạo ra lợi thế không công bằng nhằm thu lợi cho riêng mình); Tìm kiếm đặc lợi (các tổ chức vận động hành lang để được chính phủ bảo vệ, trợ cấp hoặc các chính sách ưu đãi); Thu hút người tài hoặc các quan chức nhà nước cấp cao chuyển sang làm việc trong khu vực tư nhân, tạo ra xung đột lợi ích và xu hướng thiên vị lợi ích của doanh nghiệp.

Đặc biệt, hoạt động KTTN nếu không được kiểm soát tốt thì dễ có những tác động có hại đến môi trường, một số hoạt động của khu vực tư nhân, đặc biệt là khi thiếu quy định, có thể phát thải nhiều chất độc hại, chất KNK vào môi trường, dẫn đến suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường và những thách thức trong quản lý chất thải. Qua đó cho thấy, suy thoái môi trường hiện nay hay BĐKH đều do hoặc có nguyên nhân từ hoạt động KTTN. Nền kinh tế tư nhân còn có thể gây áp lực kinh tế và làm giảm chất lượng cuộc sống của cư dân ở một số cộng đồng, thậm chí tạo ra các hoạt động phi pháp, che giấu chính quyền, chẳng hạn như không khai báo và trốn thuế.

Vẫn còn các mô hình kinh doanh bóc lột, không chỉ bóc lột người lao động trong doanh nghiệp mà còn có thể gây hại cho người tiêu dùng thông qua chất lượng dịch vụ kém hoặc thiếu quyền riêng tư và bảo vệ.

Một số công ty lớn còn có biểu hiện đầu cơ, độc quyền, làm lũng đoạn thị trường để thu lợi riêng. Đây được coi là thất bại thị trường lớn, không chỉ ở một quốc gia mà có thể liên quốc gia, thậm chí trên phạm vi toàn cầu.

Kinh tế tư nhân với sự phát triển của đất nước - Ảnh 2

Các biểu hiện tham nhũng của hoạt động KTTN đã được phát hiện, trừng phạt dưới nhiều hình thức khác nhau như hình thức phạt tiền, chấm dứt hoạt động, thậm chí các lãnh đạo doanh nghiệp có thể bị xử phạt hình sự, vướng vòng lao lý. Tuy nhiên vì lợi nhuận cao vẫn sẽ tiếp tục xuất hiện tham nhũng, tiêu cực nên rất cần có giải pháp ngăn chặn. Chúng tôi không dám đưa ra giải pháp mà chỉ nêu một số suy ngẫm về chúng trong phần sau.

Đôi điều suy ngẫm

Tôi rất hâm mộ, khâm phục những người trong giới doanh nhân và làm chính trị, bởi lẽ họ là người luôn phải quyết định những vấn đề cần làm không chỉ cho mình mà cho cả đất nước, địa phương (với nhà lãnh đạo chính trị) và cho đơn vị, doanh nghiệp, công ty, người lao động trong cơ sở sản xuất của mình. Tôi tự nhận mình không tham gia công tác chính trị được vì quá cầu toàn, luôn suy nghĩ trước sau, luôn tự mình đưa ra những hệ quả/hậu quả nếu mình quyết định thực hiện một vấn đề.

Khi tôi kể cho bạn bè về suy nghĩ của mình khi tham gia lãnh đạo với một chức vụ rất nhỏ (cỡ Bộ môn hoặc Khoa của một trường đại học) về quyết định một việc rất cụ thể, đó là có 2 cán bộ đến xin việc chọn ai đây?. Đọc lý lịch, trao đổi, tôi thấy hai người có năng lực tương đương nên nếu chọn ông A thì bà B có thể hiểu là ông A có đi đêm với mình không và ngược lại. Và tôi đã gọi hai người lên nói rằng hai người đều đủ năng lực đảm nhận công việc nhưng chỉ chọn được một, vì vậy có lẽ phải tung đồng xu để quyết định vậy. Cả hai người cùng cười và đề nghị tôi tự tung đồng xu và ai nhận được việc cũng đều vui vẻ. Khi nghe tôi kể cách quyết định kiểu tung đồng xu của mình, bạn bè đều cho rằng tôi không thể làm lãnh đạo được.

Đối với doanh nhân, chủ một cơ sở sản xuất hay một công ty, tập đoàn lớn đều phải quyết định 3 việc lớn theo lý thuyết kinh tế thị trường, đó là:

- Sản xuất cái gì/sản phẩm gì? Hay cung cấp dịch vụ gì?

- Sản xuất như thế nào?, thu hút vốn từ đâu?, tuyển người lao động ra sao, máy móc, thiết bị mua từ đâu,….?.

- Sản xuất cho ai?, nghĩa là thị trường sản phẩm lúc này và sau đó sẽ biến động như thế nào?, tập trung phục vụ tầng lớp nào (người nghèo, người giàu hay tầng lớp trung lưu,…).

Quả thật, quyết định những vấn đề này không dễ và cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhiều khi thất bại. Vì vậy chỉ có người dám làm, quyết làm, đủ tài, chấp nhận mạo hiểm và… gặp may nữa thì mới thành công được.

Xin dẫn ra đây nội dung cuộc nói chuyện rất hay giữa hai vị lãnh đạo hai tập đoàn thuộc loại lớn nhất nước là Ông Nguyễn Mạnh Hùng của Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Tập đoàn Nhà nước Viettel) và Ông Phạm Nhật Vượng của Tập đoàn Tư nhân Vingroup (Vingroup JSC) làm minh chứng. Khi một cán bộ hỏi Ông Vượng có tự tin hay không khi chuyển sang kinh doanh những lĩnh vực mới (mà VinGroup đã rất thành công) thì được trả lời (theo những gì tôi ghi được) là cũng chả tự tin lắm đâu, khi mình bước sang các lĩnh vực khác thì chỉ có “liều” thôi, đôi khi là “một ăn một tịt” thì tự tin hoàn toàn thế nào được. Nhưng khi đã quyết làm thì phải có đam mê, phải rất nỗ lực, rất cố gắng, rất nghiêm túc với công việc đó và phải mày mò, học hỏi, xem thiên hạ làm thế nào rồi cũng phải tính toán, cân đối, rồi lăn lộn, lăn xả vào, rồi huy động kêu gọi anh em mỗi người một tay thì có thể thành công. Ông lấy ví dụ, VinGroup đã có một chị vốn là Phó Chủ tịch phụ trách quản trị rủi ro nhưng khi chuyển sang làm TGĐ VinMart thì đã thành công hơn cả khi thuê chuyên gia nước ngoài là một minh chứng. Không có gì chắc ăn cả mà phải dám nghĩ, dám làm và làm quyết liệt với đầu tư cần thiết thì có thể có kết quả mong muốn.

Qua đó, mới hiểu hơn câu nói của người xưa: “có chí làm quan, có gan làm giàu” và cũng phải suy nghĩ lại về sự giàu có từ đâu đến, phải đánh đổi những gì và tỷ lệ thành công ở mức nào. Giàu thì ai cũng muốn và nhiều người cũng đã từng “liều” nhưng không phải ai cũng thành công, nhiều người còn bị phá sản, thậm chí vướng vòng lao lý nếu vi phạm pháp luật. Nếu “dễ làm khó bỏ” và không dám liều như tôi thì không thể giàu được và cũng phải xem xét lại cái nhìn về người giàu, họ đáng được ngưỡng mộ nếu như giàu hợp pháp, đặc biệt, khi đem các nguồn lực ra kinh doanh, sản xuất họ còn tạo việc làm cho nhiều người và đóng thuế cho Nhà nước nữa.

Chúng tôi được học về chế độ công hữu và tư hữu TLSX từ những năm cuối thập nhiên 1960 cho đến tận bây giờ và biết đây là vấn đề cốt lõi phân biệt con đường đi lên CNXH hay Chủ nghĩa Tư bản (CNTB). Bây giờ Quốc hiệu của Việt Nam có XHCN và Đảng vẫn lãnh đạo đất nước phát triển theo con đường lên CNXH. Vì vậy, Đảng đã xác định nền kinh tế Việt Nam là Kinh tế thị trường định hướng XHCN. Bây giờ Đảng ra Nghị quyết phát triển KTTN thì phải hiểu PTKTTN trong nền Kinh tế thị trường định hướng XHCN. Có hai vấn đề cần được các nhà lý luận làm rõ là (1). Vấn đề công hữu TLSX được hiểu thế nào và (2). Liệu trong hoạt động KTTN có xảy ra tình trạng bóc lột không? và làm thế nào để hạn chế và chấm dứt tình trạng này.

Theo nhận thức của chúng tôi cái “bất biến” trong công hữu TLSX phải được làm rõ là: công hữu đối với những loại tài nguyên thiên nhiên như đất đai, rừng, biển, ngân sách nhà nước, những nhà máy, cơ sở sản xuất được Nhà nước mua sắm, xây dựng, và quản lý,…; còn cái “vạn biến” đối với sở hữu TLSX là công nhận tư hữu đối với TLSX do các cá nhân, nhóm cá nhân tạo dựng như nhà xưởng, vốn, tư liệu sản xuất,… Một số tài nguyên thiên nhiên không có sở hữu tư nhân nhưng Nhà nước có thể giao cho tư nhân sử dụng trong thời gian dài và có quyền chuyển nhượng theo các thỏa thuận. Điều này giúp đưa TLSX đến tay người sử dụng hiệu quả nhất có thể (theo nguyên lý KTTT).

Bóc lột là một thực tế đáng buồn trong thời kỳ đầu của CNTB được Các Mác chỉ ra trong học thuyết kinh tế chính trị của mình. Tuy nhiên, trong các giai đoạn sau, các ông chủ tư bản đã tiếp thu cảnh báo của Các Mác về hậu quả của bóc lột nên đã có những cải thiện về chi trả lương, cung cấp thêm các hỗ trợ cho người lao động nhằm bảo tồn tốt nhất sức lao động phục vụ lâu dài hơn trong các doanh nghiệp. Trong KTTT XHCN phải hiểu rộng hơn về bóc lột, về thu nhập hợp pháp của cả người chủ và người làm. Một mặt, người chủ tạo các việc làm trong danh mục cho phép của pháp luật với mức lương phù hợp với mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định cùng những hỗ trợ khác (như đóng bảo hiểm, có lương thưởng chẳng hạn), sau đó công khai tuyển dụng.

Mặt khác, người làm/người lao động có thể xem thông tin tuyển dụng và nếu đồng ý thì có thể đến dự tuyển dụng, chứng minh khả năng của mình để được vào làm. Khi hai bên đã thỏa thuận thì ký hợp đồng theo quy định của pháp luật và nếu người chủ trả cho người làm đúng theo hợp đồng thì khoản lợi nhuận có được của doanh nghiệp được coi là hợp pháp, sau khi đóng thuế sẽ được coi là tiền hợp pháp của doanh nghiệp trong đó phần của các ông chủ cũng là hợp pháp và không bị coi là tiền có được do bóc lột người lao động. Người làm đã sử dụng sức lao động để sản xuất, làm dịch vụ trong khuôn khổ DNTN đã được trả công đúng pháp luật nên tiền nhận được cũng hợp pháp và không bị coi là bị bóc lột. Đây có lẽ là định kiến về KTTN mà người gì như chúng tôi vẫn còn vương vấn trong đầu cần được gỡ bỏ?.

Kinh tế tư nhân với sự phát triển của đất nước - Ảnh 3

Một vấn đề có thể coi là “định kiến” trong tầng lớp người già hiện nay, đó là chênh lệch giàu nghèo gia tăng. Chúng tôi được sống nhiều năm ở Miền Bắc mà hầu như lúc đó không có người giàu còn bây giờ thì đã có những người là tỷ phú USD. Nhiều người rất quan tâm họ làm giàu như thế nào, bằng cách nào vì ngày xưa chỉ có quan lại và tầng lớp buôn bán mới giàu (phi thương bất phú) và đôi khi người giàu họ tiêu tiền như thế nào có quá xa xỉ, quá phung phí không?. Với tôi, đôi lúc vẫn có suy nghĩ như vậy nhưng rồi qua nghiên cứu tôi thấy ngưỡng mộ những người giàu hợp pháp kể cả họ có “lách” luật để làm giàu. Nhiều khi người ta vẫn có ác cảm với người giàu vì không hiểu họ có phải giàu hợp pháp không, vì đã có khá nhiều người rất giàu nhưng rồi pháp luật chỉ ra các sai phạm của họ và xử lý. Việc chứng minh giàu hợp pháp rất khó, chả lẽ lúc nào người giàu cũng tự chứng minh, và khó để mọi người coi họ giàu là hợp pháp, chân chính.

Tiểu thuyết "Những người khốn khổ" của nhà văn Pháp, Victor Hugo, cũng đã khắc họa nỗi khổ tâm của nhân vật Giăng Vangiăng khi con rể, Mariuyt, không muốn sử dụng số tiền mà ông để lại cho Côdét (vợ Mariuyt) vì nghi ngờ tính hợp pháp, chân chính của số tiền này. Chỉ sau khi hiểu về số tiền có được là do lao động và sáng kiến của bố vợ, Mariuyt đã òa khóc và sau đó mới sử dụng. Vậy nên, chúng ta phải có thái độ đúng đắn với người giàu vì họ là người có tài, dám làm, dám mạo hiểm, có tầm nhìn rộng và là người rất cần cù, luôn dốc toàn bộ tâm trí để làm việc, toàn những việc lớn mà sơ sẩy một chút có thể thất bại hoàn toàn. Một khía cạnh khác, cũng cần ghi nhận đóng góp to lớn của người giàu cho xã hội mà những gì nhìn thấy ngay là đóng nhiều thuế (cả thuế thu nhập cá nhân lẫn thuế doanh nghiệp do họ làm chủ) cho ngân sách, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động và tạo dấu ấn thương hiệu Việt Nam trên Thế giới.

Viết đến đây tôi lại nghĩ đến một nguyên lý được nêu bởi các nhà kinh tế theo mô hình Tân cổ điển, đó là cố gắng tìm ra những định luật chi phối các hoạt động kinh tế, trong đó, vai trò của cá nhân được đề cao, con người được coi là trên hết. Cá nhân được đánh giá thông qua khả năng hoạt động nhằm thoả mãn ý muốn, sở thích của mình và ngay cả sự mưu cầu có tính ích kỷ cũng được coi như là nâng cao phúc lợi xã hội. Với nguyên lý này thì của cải, tài sản của người giàu cũng là của cải chung của xã hội và người giàu có trách nhiệm sử dụng chúng không chỉ phục vụ lợi ích riêng mà còn cho cả xã hội nữa. Không biết mọi người có đồng thuận với nguyên lý này không nhưng đã có minh chứng về những người rất rất giàu trên Thế giới có những hành động thể hiện rõ tính nhân văn đáng quý này.

Các mặt trái khác như tham nhũng, tác động môi trường đã được đề cập trong nhiều bài viết và phần nào được thể hiện trong phần Giải pháp thực hiệnTổ chức thực hiện trong NQ68 nên có thể hy vọng chúng được kiểm soát, giảm thiểu. Bài viết đã quá dài, xin dừng lại ở đây.

Hoàng Xuân Cơ
Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam

Bạn đang đọc bài viết Kinh tế tư nhân với sự phát triển của đất nước. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0937 68 8419 Hoặc email: [email protected]

Cùng chuyên mục

Kinh tế tư nhân với sự phát triển của đất nước
Kinh tế tư nhân có lịch sử hình thành lâu dài và ngày càng khẳng định vai trò trong phát triển đất nước. Quá trình thay đổi nhận thức của Đảng qua các giai đoạn và ý nghĩa của Nghị quyết 68 cho thấy bước chuyển quan trọng trong thúc đẩy khu vực này.

Tin mới

Phát động Giải Búa liềm Vàng lần thứ XI - năm 2026
Tối 3.2, tại Nhà hát Hồ Gươm (Hà Nội), Ban Tổ chức Trung ương phối hợp với nhiều cơ quan tổ chức Lễ tuyên dương Bí thư Chi bộ xuất sắc và trao Giải Búa liềm Vàng lần thứ X năm 2025, nhân kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng và chào Xuân Bính Ngọ 2026.