Hiệu quả thiết thực từ Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

"Cú hích" thay đổi nếp nghĩ "đợi cho, chờ cấp"
Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 và định hướng nội dung giai đoạn 2026-2030 mới đây, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ, mà còn là tình cảm sâu sắc, mệnh lệnh từ trái tim, mang tính nhân văn cao cả đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi - nơi còn nhiều khó khăn về hạ tầng cả về giao thông, giáo dục, y tế, vệ sinh môi trường, sinh kế của người dân còn nhiều khó khăn, nhiều tập quán lạc hậu…
Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) 1719 đã tạo ra một hành lang pháp lý đột phá. Điểm cốt lõi trong công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách giai đoạn này là làm cho đồng bào hiểu: Nhà nước chuyển từ "cho không" sang "hỗ trợ có điều kiện", lấy Hợp tác xã (HTX) làm trung tâm để tổ chức sản xuất.
Giai đoạn I từ năm 2021-2025 Chương trình có tổng mức vốn thực hiện trên 137.000 tỷ đồng. Sau gần 5 năm thực hiện, chương trình đã hỗ trợ đất ở và nhà ở cho 53.116 hộ; hỗ trợ đất sản xuất cho 13.387 hộ và nước sinh hoạt phân tán cho 479.358 hộ; đầu tư xây dựng 809 công trình nước sinh hoạt tập trung; quy hoạch, sắp xếp, bố trí, ổn định dân cư cho 25.056 hộ.
Qua đánh giá, có 6 nhóm nhiệm vụ cơ bản của chương trình đạt hoặc vượt kế hoạch đề ra. Trong đó, mục tiêu về tỷ lệ giảm nghèo vùng đồng bào DTTS đạt bình quân 3,4%, vượt dự kiến chương trình là 3,2%; thu nhập bình quân đầu người đạt 43,4 triệu đồng/năm, tăng 3,1 lần so với năm 2020; nhóm mục tiêu về giáo dục, lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề đạt bình quân 54,8%, vượt mục tiêu chương trình 4%; các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc được bảo tồn và phát triển; công tác y tế để đồng bào được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện đại được tăng cường…
Hiệu quả của việc đưa chính sách vào cuộc sống được minh chứng rõ nét nhất qua sự thay đổi tư duy sản xuất tại các "thủ phủ" nông sản mới. Tại tỉnh Sơn La, nhờ nắm bắt kịp thời các cơ chế khuyến khích, đồng bào các dân tộc đã mạnh dạn chuyển đổi đất nương rẫy kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả. Kết quả là hình thành nên các vùng chuyên canh rộng hàng chục nghìn hecta tại Mộc Châu, Yên Châu, Sông Mã, đưa Sơn La trở thành vựa trái cây lớn thứ hai cả nước3.
Tại Lào Cai, chính sách phát triển sản phẩm đặc hữu đã được cụ thể hóa tại xã Hướng Tâm. Nhờ được tuyên truyền và hỗ trợ áp dụng quy trình chuẩn, sản phẩm chè của địa phương này đã vươn lên đạt chuẩn OCOP 4 sao, khẳng định vị thế trên thị trường thay vì bán nguyên liệu thô giá rẻ như trước.
Hay tại xã Tân Uyên (tỉnh Lai Châu), nhận thức về bảo vệ môi trường trong chính sách Nông thôn mới đã được hiện thực hóa bằng mô hình của HTX Công nghệ môi trường. Tại đây, rác thải và phụ phẩm không còn là gánh nặng mà được xử lý bằng công nghệ, giải quyết bài toán ô nhiễm môi trường nông thôn một cách căn cơ.
Nói về Chương trình, ông Jonathan Pincus (chuyên gia Kinh tế quốc tế cao cấp, Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc - UNDP) cho rằng: "Việt Nam đã thể hiện cam kết nhất quán đối với sự phát triển của khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Thực tế, từ năm 2020 đến nay, tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực này đã giảm mặc dù xảy ra dịch COVID-19 và những khó khăn chung của nền kinh tế. Kết quả đó khá ấn tượng".

Kiến tạo tương lai từ nền tảng chính sách
Một điểm sáng tạo trong chủ trương của Đảng giai đoạn này là quan điểm "Văn hóa là nguồn lực kinh tế". Công tác tuyên truyền đã giúp đồng bào nhận ra: Bản sắc văn hóa chính là "mỏ vàng" nếu biết cách khai thác.
Tại Tây Nguyên, các chính sách hỗ trợ làng nghề đã "thổi lửa" cho các HTX dệt thổ cẩm. Không chỉ bảo tồn những hoa văn cổ truyền, các HTX này đã thương mại hóa sản phẩm, biến tấm vải dệt thủ công thành hàng hóa có giá trị cao phục vụ du lịch và xuất khẩu. Chính sách đã giúp người dân hiểu rằng gìn giữ văn hóa cũng là một cách làm kinh tế hiệu quả.
Ở Thái Nguyên, cụ thể là tại xã Linh Thông (huyện Định Hóa cũ, tỉnh Thái Nguyên), chủ trương xây dựng cảnh quan nông thôn mới đã được người dân hưởng ứng nhiệt tình. Thông qua việc hỗ trợ trồng 70 cây sấu và nhân công chăm sóc, địa phương không chỉ tạo ra bóng mát, cảnh quan mà còn hướng tới thu hoạch quả, tạo thêm thu nhập từ cây trồng bản địa.
Để chính sách thực sự đi vào đời sống, công tác "dân vận khéo" thông qua chuyển đổi số đóng vai trò tiên quyết. Hệ thống Liên minh HTX Việt Nam đã tổ chức hơn 200 lớp tập huấn về công nghệ thông tin tại 8 khu vực. Hàng nghìn người dân vùng cao lần đầu tiên được tiếp cận với thương mại điện tử, biết cách đưa nông sản lên "chợ ảo" để bán đi xa.
Dù đã đạt được những bước tiến dài, nhưng thực tiễn triển khai chính sách vẫn còn những rào cản. Thủ tục hành chính để tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ còn phức tạp đối với trình độ của nhiều cán bộ HTX vùng cao. Nguồn lực đầu tư, dù đã được ưu tiên, vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế rất lớn tại các địa bàn chia cắt, hiểm trở.
Hướng tới giai đoạn 2026-2030, hệ thống chính sách sẽ tiếp tục được hoàn thiện theo hướng tăng cường phân cấp, trao quyền. Liên minh HTX Việt Nam đã kiến nghị Quốc hội xem xét tăng tỷ lệ vốn đầu tư phát triển dành riêng cho khu vực kinh tế tập thể, đồng thời đơn giản hóa thủ tục để "dòng máu" chính sách lưu thông nhanh hơn đến các bản làng.
Từ những đồi chè Hướng Tâm đến vùng cây trái Sông Mã, thực tiễn sinh động đã chứng minh: Khi chủ trương "trúng" và chính sách "thông", khát vọng làm giàu của đồng bào dân tộc thiểu số sẽ được đánh thức, tạo nên sức bật mạnh mẽ cho diện mạo kinh tế vùng cao.
Duy Khánh














