Giải pháp khắc phục điểm nghẽn quy hoạch điện cho phát triển công nghiệp Quảng Ninh
Bài viết đề xuất một số nhóm giải pháp đồng bộ nhằm khắc phục điểm nghẽn quy hoạch điện ở Quảng Ninh, bảo đảm đủ năng lực hạ tầng năng lượng phục vụ phát triển công nghiệp nhanh và bền vững.
Lời Tòa soạn:
Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng xanh và bền vững, tỉnh Quảng Ninh đã nổi lên là một địa phương có môi trường đầu tư năng động, hạ tầng đồng bộ và chiến lược phát triển công nghiệp rõ ràng. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thời gian qua cho thấy một trong những điểm nghẽn quan trọng đang ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ thu hút đầu tư và vận hành của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh chính là hạn chế về quy hoạch và hạ tầng cung ứng điện.
Việc quy hoạch điện chưa theo kịp với nhu cầu phát triển công nghiệp dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn điện cục bộ, quá tải lưới truyền tải, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và năng lực cạnh tranh của tỉnh. Trong bối cảnh Quảng Ninh định hướng phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp xanh và tiết kiệm năng lượng, việc tháo gỡ điểm nghẽn về điện không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn mang ý nghĩa chiến lược dài hạn.
Trên cơ sở đó, bài viết thứ ba mang tựa đề Giải pháp khắc phục điểm nghẽn quy hoạch điện cho phát triển công nghiệp Quảng Ninh trong chuỗi bài viết với chủ đề Nhận diện thời cơ, thuận lợi và khó khăn để Quảng Ninh phát triển công nghiệp xanh, bền vững của TS, Luật sư, Doanh nhân Phạm Hồng Điệp sẽ đề xuất một số nhóm giải pháp đồng bộ nhằm khắc phục điểm nghẽn quy hoạch điện, bảo đảm đủ năng lực hạ tầng năng lượng phục vụ phát triển công nghiệp nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.

Bài 1: Giải pháp thúc đẩy phát triển năng lượng bền vững tại Việt Nam
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐIỂM NGHẼN TRONG QUY HOẠCH ĐIỆN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỈNH QUẢN NINH
Hiện trạng phát triển công nghiệp và nhu cầu điện năng
Tốc độ phát triển công nghiệp nhanh, phân bố không đồng đều: Quảng Ninh hiện có nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp trọng điểm như: KCN Đông Mai, KCN Sông Khoai, KCN Bắc Tiền Phong, KCN Nam Tiền Phong, KCN Việt Hưng mở rộng, KCN Hải Yên, cùng với các cụm công nghiệp tại Hoành Bồ, Quảng Yên, Đông Triều, Đầm Hà… Các khu vực này thu hút ngày càng nhiều dự án lớn trong lĩnh vực chế biến, chế tạo, năng lượng, cảng biển và logistics.
Nhu cầu sử dụng điện tăng đột biến: Với tốc độ gia tăng các dự án FDI quy mô lớn, nhiều KCN có nhu cầu điện lên tới 70–150 MW/khu, vượt xa công suất thiết kế ban đầu và làm tăng áp lực lên hệ thống cung ứng điện trung và cao thế.

ĐIỂM NGHẼN TRONG QUY HOẠCH VÀ CUNG ỨNG ĐIỆN
Quy hoạch điện chưa đồng bộ với quy hoạch phát triển công nghiệp:
Quy hoạch phát triển công nghiệp tại một số khu vực đã điều chỉnh, mở rộng nhưng chưa được cập nhật kịp vào Quy hoạch điện VIII quốc gia và các quy hoạch hạ tầng điện lực địa phương.
Thiếu sự gắn kết giữa ngành công thương và ngành quy hoạch xây dựng, dẫn đến chậm trễ trong xác định nhu cầu điện năng làm căn cứ lập, bổ sung quy hoạch.
Hệ thống truyền tải và phân phối điện quá tải hoặc thiếu hụt:
Một số khu vực công nghiệp như Đông Triều, Cẩm Phả, Hoành Bồ, TP Hạ Long chưa được đầu tư đủ trạm biến áp trung gian (110kV, 220kV) và hệ thống đường dây truyền tải, gây tình trạng quá tải cục bộ, đặc biệt vào mùa cao điểm.
Lưới điện phân phối trong các khu công nghiệp chưa hoàn thiện hoặc chậm triển khai, nhiều nơi vẫn phụ thuộc vào hệ thống điện dân dụng lân cận điển hình như Dự án Cụm công nghiệp phía Đông Đầm Hà B.
Cơ chế điều chỉnh quy hoạch và đầu tư còn thiếu linh hoạt
Việc điều chỉnh quy hoạch điện, đặc biệt đối với các công trình trên 110kV, phải trình qua nhiều cấp, mất nhiều thời gian thẩm định, không kịp thời hỗ trợ các dự án công nghiệp đã được chấp thuận đầu tư.
Thiếu cơ chế chủ động cho địa phương trong việc bổ sung các hạng mục hạ tầng điện cấp địa phương (trạm biến áp, đường dây trung thế).
Phát triển năng lượng tái tạo và điện phân tán chưa hiệu quả
Tiềm năng phát triển điện mặt trời mái nhà tại khu công nghiệp còn lớn, nhưng chưa được khai thác do thiếu hướng dẫn về đấu nối, tiêu chuẩn kỹ thuật và cơ chế giá điện mua bán nội bộ.
Các nhà máy điện truyền thống đang bị hạn chế về vận hành do áp lực giảm phát thải, trong khi nguồn thay thế từ năng lượng tái tạo chưa đáp ứng quy mô phụ tải công nghiệp.
Thiếu cơ chế phối hợp liên vùng và giữa các cấp
Hệ thống truyền tải điện vùng giữa Quảng Ninh với Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Giang chưa có sự phối hợp điều tiết phụ tải hợp lý.
Thiếu cơ chế điều phối đầu tư điện giữa doanh nghiệp hạ tầng KCN và ngành điện lực, khiến tiến độ đầu tư điện bị tách rời với tiến độ triển khai khu công nghiệp. Quan điểm của công ty Điện lực Quảng Ninh phải xác định rõ được đối tượng khách hàng, nhu cầu sử dụng điện của khách hàng mới đầu tư hạ tầng truyền tải lưới điện tới chân hàng rào KCN/CCN trong khi đó muốn thu hút được doanh nghiệp thì các KCN/CCN phải sẵn sàng đáp ứng các điều kiện hạ tầng thiết yếu và điện, nước, giao thông..
GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
Từ những phân tích ở trên có thể thấy, điểm nghẽn về quy hoạch và hạ tầng cung cấp điện đang là một trong những rào cản lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình công nghiệp hóa và thu hút đầu tư vào tỉnh Quảng Ninh. Mặc dù Quảng Ninh là trung tâm sản xuất điện lớn (với các nhà máy nhiệt điện như Mông Dương, Cẩm Phả, Quảng Ninh…), nhưng hạ tầng truyền tải và phân phối điện lại không theo kịp quy hoạch phát triển khu công nghiệp – khu kinh tế, gây thiếu hụt điện cục bộ, không bảo đảm cho các dự án công nghiệp mới.
Việc thiếu đồng bộ giữa quy hoạch điện và quy hoạch phát triển không gian công nghiệp, cùng với sự chậm trễ trong đầu tư hạ tầng truyền tải và cơ chế điều chỉnh cứng nhắc, đã khiến nhiều khu công nghiệp tiềm năng bị hạn chế khả năng tiếp cận điện năng ổn định, an toàn.
Để tháo gỡ căn cơ những tồn tại này, cần thiết phải có một hệ thống giải pháp đồng bộ, không chỉ mang tính kỹ thuật, mà còn liên quan đến thể chế, quy hoạch, cơ chế tài chính và phương thức phối hợp giữa các cấp, các ngành. Dưới đây là một số nhóm giải pháp trọng tâm nhằm khắc phục hiệu quả điểm nghẽn về điện, bảo đảm điều kiện hạ tầng thiết yếu cho phát triển công nghiệp bền vững, hiện đại tại Quảng Ninh trong thời gian tới.
Nhóm giải pháp quy hoạch – thể chế
Rà soát, cập nhật và tích hợp quy hoạch điện phù hợp định hướng công nghiệp hóa:
Tổ chức rà soát toàn bộ quy hoạch các KCN, CCN, khu kinh tế và cụm ngành công nghiệp trọng điểm để xác định nhu cầu điện hiện tại và tương lai. Đưa vào quy hoạch các trạm biến áp 110kV, 220kV, lưới trung – cao thế đáp ứng nhu cầu 10–20 năm tới cho từng khu công nghiệp, cụm công nghiệp.
Chủ động đề xuất Bộ Công Thương bổ sung các phụ tải công nghiệp chiến lược của tỉnh vào Quy hoạch điện VIII, đặc biệt là nhu cầu điện tại các khu vực như Quảng Yên, Đông Triều, Hoành Bồ, Hải Hà, Móng Cái...
Phối hợp với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) để điều chỉnh quy hoạch điện lực tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050, phù hợp quy hoạch tỉnh Quảng Ninh và chiến lược phát triển công nghiệp xanh. Kết nối quy hoạch điện lực với quy hoạch tỉnh và quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng để bảo đảm tính liên kết vùng và phân bổ đầu tư hợp lý.
Cải tiến cơ chế điều chỉnh, phê duyệt quy hoạch và đầu tư điện:
Đề xuất Chính phủ phân cấp cho địa phương quyền điều chỉnh cục bộ quy hoạch điện từ cấp 110kV trở xuống trong phạm vi ràng buộc kỹ thuật cho phép.
Kiến nghị Bộ Công Thương xây dựng cơ chế “rút gọn thủ tục” cho các dự án điện gắn với các khu công nghiệp đã được cấp quyết định chủ trương đầu tư hoặc có vốn FDI lớn.
Nhóm giải pháp đầu tư hạ tầng điện – kỹ thuật
Đẩy nhanh đầu tư các công trình truyền tải và trạm biến áp trọng điểm
Ưu tiên đầu tư các trạm biến áp 110kV, 220kV và đường dây truyền tải song hành với phát triển KCN tại các khu vực công nghiệp trọng điểm. Mở rộng các tuyến 220kV từ Hạ Long – Cẩm Phả – Quảng Yên – Hải Hà. Xây dựng mới hoặc nâng cấp các trạm 110kV – 220kV phục vụ các KCN đang phát triển (như Nam Tiền Phong, Bắc Tiền Phong, Đông Mai…).
Huy động vốn từ nhiều nguồn (đầu tư công, vốn xã hội hóa, đối tác công tư PPP) để đẩy nhanh tiến độ các dự án hạ tầng điện chiến lược.
Đề xuất EVNNPT sớm triển khai các dự án đường dây 500kV và 220kV liên kết vùng (Quảng Ninh – Hải Dương – Hải Phòng – Bắc Giang) phục vụ điều hòa phụ tải và chia sẻ năng lực cấp điện.
Khuyến khích phát triển lưới điện phân phối trong KCN theo mô hình xã hội hóa
Cho phép các chủ đầu tư hạ tầng KCN đầu tư hệ thống phân phối điện nội bộ và trạm biến áp trung thế, áp dụng mô hình “khách hàng lớn tự đầu tư lưới” trong nội khu.
Kết nối đường dây vào mạng lưới của EVN theo hình thức hợp tác công tư (PPP)
Ban hành hướng dẫn kỹ thuật – đấu nối để các doanh nghiệp thực hiện đảm bảo an toàn và kết nối đồng bộ với lưới điện quốc gia.
Kiến nghị với Bộ Công Thương cho phép tỉnh (hoặc các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng KCN) được ứng vốn trước đầu tư trạm biến áp, đường dây trung thế với lộ trình hoàn trả từ EVN. Áp dụng cơ chế tương tự như hạ tầng đường giao thông trong KKT: “nhà nước và tư nhân cùng làm.
Xây dựng Quỹ phát triển hạ tầng năng lượng KCN, lấy từ nguồn thu ngân sách từ tiền thuê đất KCN, để hỗ trợ GPMB và đầu tư trạm điện.
Nhóm giải pháp phát triển nguồn điện sạch và phân tán
Thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo tại chỗ trong KCN
Thí điểm hỗ trợ phát triển điện mặt trời mái nhà trên mái nhà xưởng, nhà máy trong các KCN, cho phép cơ chế bán điện nội bộ hoặc lưu trữ điện tại chỗ.
Nghiên cứu phát triển điện gió ven biển khu vực Vân Đồn, Hải Hà, Móng Cái gắn với chiến lược phát triển công nghiệp logistics – cảng biển xanh.
Tăng cường ứng dụng công nghệ thông minh và năng lượng tiết kiệm:
Khuyến khích các nhà máy công nghiệp đầu tư công nghệ sử dụng điện hiệu quả, hệ thống điều khiển tự động tiết giảm phụ tải giờ cao điểm.
Xây dựng nền tảng quản lý năng lượng tại các KCN theo mô hình “khu công nghiệp thông minh về năng lượng”.
Bổ sung các dự án điện tái tạo và lưu trữ điện vào Quy hoạch điện VIII: Gắn quy hoạch năng lượng tái tạo với phát triển KCN xanh – sinh thái.

Quy hoạch điện VIII điều chỉnh nhấn mạnh phương án phát triển tối đa nguồn điện năng lượng tái tạo.
Nhóm giải pháp tổ chức thực hiện và phối hợp liên ngành
Thiết lập cơ chế phối hợp ba bên: địa phương – ngành điện – chủ đầu tư:
Hình thành tổ công tác cấp tỉnh về năng lượng phục vụ phát triển công nghiệp với sự tham gia của Sở Công Thương, Ban Quản lý KKT, EVN, EVNNPC, các nhà đầu tư KCN và doanh nghiệp công nghiệp lớn.
Thực hiện chế độ giao ban định kỳ để cập nhật tiến độ đầu tư điện và tháo gỡ vướng mắc kịp thời.
Thành lập Ban chỉ đạo phát triển hạ tầng năng lượng – công nghiệp
Gắn kết EVNNPT, EVNNPC, Tổng công ty Điện lực miền Bắc, các nhà đầu tư hạ tầng KCN (như Viglacera, DEEP C…) và các nhà đầu tư chiến lược (Samsung, Foxconn…) để xây dựng kế hoạch phát triển điện theo chuỗi dự án công nghiệp.
Hỗ trợ thủ tục, mặt bằng và giải phóng mặt bằng cho dự án điện:
Giao các địa phương chủ động bố trí quỹ đất, đẩy nhanh GPMB cho các công trình truyền tải, trạm biến áp trên địa bàn.
Áp dụng cơ chế “đồng hành cùng doanh nghiệp” để rút ngắn thời gian chuẩn bị và triển khai dự án điện gắn với KCN.
ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH ĐỒNG BỘ ĐIỆN - CÔNG NGHIỆP - LOGISTICS
Trong định hướng trở thành trung tâm công nghiệp – dịch vụ – logistics vùng Đông Bắc, tỉnh Quảng Ninh đang đẩy mạnh phát triển các khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT) ven biển, khu cảng biển tổng hợp, trung tâm logistics quy mô lớn. Tuy nhiên, việc phát triển này mới chủ yếu tập trung vào mặt bằng và hạ tầng giao thông, còn thiếu sự phối hợp đồng bộ với hạ tầng năng lượng – đặc biệt là điện. Tình trạng thiếu hụt điện cục bộ, quy hoạch điện lạc hậu so với phát triển công nghiệp – logistics, và thiếu mô hình tích hợp ba thành phần này đã cản trở năng lực cạnh tranh tổng thể của tỉnh. Do đó, cần thiết phải xây dựng một mô hình phát triển tích hợp, đồng bộ giữa hệ thống điện – hạ tầng công nghiệp – hạ tầng logistics, bảo đảm phát triển hiệu quả, tiết kiệm chi phí, và thu hút được các nhà đầu tư lớn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Mục tiêu của mô hình
Đồng bộ hóa hạ tầng giữa các khu công nghiệp, cảng biển, trung tâm logistics với hệ thống truyền tải và cung cấp điện.
Tối ưu hóa sử dụng năng lượng trong các chuỗi sản xuất – vận chuyển – phân phối hàng hóa.
Hỗ trợ phát triển công nghiệp xanh – thông minh gắn với năng lượng tái tạo và quản trị điện năng tiên tiến.
Tạo lợi thế vượt trội trong thu hút đầu tư FDI vào các ngành chế biến sâu, logistics, và công nghiệp điện tử – cơ khí chính xác.
Cấu trúc mô hình đề xuất
Vùng công nghiệp – điện – logistics tích hợp theo trục không gian ven biển:
Tập trung tại trục Quảng Yên – Hoành Bồ – Hạ Long – Cẩm Phả – Vân Đồn – Hải Hà – Móng Cái.
Mỗi cụm KCN – cảng – logistics được gắn với 1 cụm nguồn điện (trạm 220kV/110kV) và hệ thống điện phân phối chuyên biệt.
Ưu tiên phát triển các trạm biến áp thông minh, tích hợp điện mặt trời mái nhà, hệ thống lưu trữ năng lượng, và cơ chế giám sát – điều độ năng lượng cho toàn khu.
Cụm trung tâm năng lượng – công nghiệp sạch:
Triển khai mô hình “khu công nghiệp điện lực – năng lượng tái tạo – logistics” tại một số khu vực như: Quảng Yên – Nam Tiền Phong – Bắc Tiền Phong: nơi gần cụm cảng và có không gian công nghiệp lớn.
Xây dựng một số trung tâm năng lượng tại chỗ phục vụ từng cụm công nghiệp lớn như: KCN Sông Khoai, Bắc Tiền Phong, KCN Hải Yên.
Phát triển các mô hình microgrid (lưới điện độc lập) trong khu công nghiệp để đảm bảo cấp điện ổn định, giảm phụ thuộc vào lưới điện quốc gia trong giờ cao điểm.
Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư hệ thống năng lượng tái tạo – điện mặt trời kết hợp lưu trữ, tự sản xuất – tự tiêu thụ.
Kết hợp phát triển KCN tuần hoàn, sử dụng phụ phẩm từ nhiệt điện (tro xỉ) để sản xuất vật liệu xây dựng.
Kết nối hạ tầng logistics – công nghiệp – điện theo không gian tuyến
Gắn kết các tuyến logistics chính (cao tốc, đường sắt, đường thủy) với các KCN và trung tâm cung ứng điện.
Ưu tiên đầu tư các “khu logistics chuyên biệt có phụ tải cao” gắn với trạm biến áp 220kV (như tại Đầm Nhà Mạc, Nam Tiền Phong, cảng biển Hải Hà).
Tạo điều kiện để các trung tâm logistics hoạt động 24/7 với hệ thống cấp điện dự phòng tự chủ và thông minh.
KIẾN NGHỊ
Mô hình đồng bộ điện – công nghiệp – logistics là hướng đi tất yếu để Quảng Ninh nâng cao năng lực cạnh tranh khu vực công nghiệp, vượt qua các điểm nghẽn hiện tại về cung ứng điện. Việc phát triển theo mô hình tích hợp không chỉ giúp tiết kiệm chi phí đầu tư xã hội mà còn tạo ra lợi thế vượt trội trong thu hút các tập đoàn toàn cầu đến xây dựng chuỗi giá trị sản xuất tại Quảng Ninh. Qua đó tỉnh Quảng Ninh cần Kiến nghị: (i) Chính phủ cho phép Quảng Ninh thí điểm mô hình vùng công nghiệp – điện – logistics tích hợp với các cơ chế ưu đãi đầu tư năng lượng – hạ tầng; (ii) Bộ Công Thương ưu tiên phê duyệt nhanh các dự án điện gắn với KCN thuộc mô hình tích hợp; (iii) EVN phối hợp với địa phương xây dựng hệ thống lưới điện chiến lược liên vùng phục vụ phụ tải công nghiệp ven biển và khu kinh tế cửa khẩu.
KẾT LUẬN
Trong tiến trình xây dựng Quảng Ninh trở thành trung tâm công nghiệp – dịch vụ hiện đại, xanh và bền vững của vùng Đông Bắc, bảo đảm hạ tầng điện ổn định, đủ năng lực và đồng bộ với quy hoạch phát triển không gian công nghiệp – logistics là điều kiện tiên quyết. Thực tế phát triển nhanh chóng các khu công nghiệp, khu kinh tế và các trung tâm logistics trong thời gian qua đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải khắc phục triệt để những điểm nghẽn về quy hoạch và hạ tầng điện.
Việc giải quyết bài toán điện năng không thể tiếp cận theo hướng đơn ngành, cục bộ mà cần được tích hợp vào một mô hình phát triển không gian điện – công nghiệp – logistics đồng bộ, gắn liền với các trục phát triển kinh tế trọng điểm của tỉnh. Đây không chỉ là giải pháp trước mắt để giải quyết tình trạng quá tải cục bộ hay thiếu hụt điện trong sản xuất, mà còn là nền tảng chiến lược lâu dài để nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút các dự án FDI chất lượng cao, và thúc đẩy công nghiệp hóa theo hướng xanh, tuần hoàn và số hóa.
Quảng Ninh cần sự vào cuộc đồng bộ của Trung ương, địa phương, ngành điện và doanh nghiệp, cả trong cơ chế chính sách, quy hoạch tích hợp và đầu tư hạ tầng. Đặc biệt, việc thí điểm mô hình “tổ hợp điện – công nghiệp – logistics” tại một số khu vực chiến lược như Quảng Yên, Hải Hà, Móng Cái có thể tạo tiền đề nhân rộng ra các khu vực khác trong vùng và cả nước.
Chủ động quy hoạch – linh hoạt điều hành – hiện đại hóa đầu tư – kết nối vùng, đó là 4 trụ cột để Quảng Ninh vượt qua điểm nghẽn điện năng và tiếp tục giữ vai trò tiên phong trong phát triển công nghiệp – dịch vụ hiện đại tại miền Bắc Việt Nam.
TS, Luật sư, Doanh nhân Phạm Hồng Điệp
Ủy viên Hội đồng Biên tập Tạp chí Kinh tế Môi trường












