Thứ sáu, 23/01/2026 07:14 (GMT+7)
Thứ sáu, 23/01/2026 06:03 (GMT+7)

Giá lúa gạo hôm nay 23.1: Gạo nguyên liệu tăng nhẹ, xuất khẩu chững lại

Theo dõi KTMT trên

Giá lúa gạo hôm nay 23.1 ghi nhận tín hiệu nhích nhẹ ở một số mặt hàng, nổi bật là gạo nguyên liệu tại ĐBSCL tăng ngày thứ ba liên tiếp. Tuy vậy, giao dịch trong nước vẫn thận trọng, giá xuất khẩu đi ngang, thị trường chờ thêm động lực mới.

Giá lúa gạo hôm nay 23.1: Gạo nguyên liệu tăng nhẹ, xuất khẩu chững lại - Ảnh 1
Giá lúa gạo hôm nay 23.1 nhích nhẹ.

Giá lúa gạo hôm nay 23.1

Ghi nhận giá lúa gạo hôm nay 23.1, cho thấy thị trường gạo có dấu hiệu khởi sắc nhẹ so với hôm qua, dù mặt bằng giá nhìn chung vẫn ổn định. Tại Tân Hiệp, Giồng Riềng (An Giang), giao dịch gạo trắng diễn ra chậm, các kho mua cầm chừng, giá các loại gạo hầu như không biến động.

Tại An Giang, hoạt động mua bán nhộn nhịp hơn đôi chút, song giá gạo nguyên liệu trắng và các chủng loại khác vẫn giữ mức ổn định. Ở Sa Đéc (Đồng Tháp), lượng gạo về ít, giao dịch thưa thớt nhưng giá vẫn đứng vững. Khu vực An Cư (Đồng Tháp), các kho mua chậm, chọn lọc kỹ, giá gạo duy trì trạng thái tương đối ổn định.

Đáng chú ý, giá gạo nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận tăng nhẹ ngày thứ ba liên tiếp. Gạo OM 380 nhích thêm 50 đồng/kg, lên 7.600 – 7.700 đồng/kg. Trong khi đó, nhiều loại gạo khác gần như đi ngang: OM 5451 dao động 8.750 – 8.900 đồng/kg; CL 555 ở mức 7.600 – 7.800 đồng/kg; Đài Thơm 8 khoảng 8.600 – 8.750 đồng/kg; IR 504 từ 7.650 – 7.750 đồng/kg; Sóc thơm 7.500 – 7.600 đồng/kg; IR 50404 đạt 8.500 – 8.600 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.400 – 8.600 đồng/kg.

Tại các chợ dân sinh, giá gạo bán lẻ tiếp tục ổn định. Gạo thường phổ biến 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo Nàng Nhen giữ mức cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài niêm yết 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái dao động 20.000 – 22.000 đồng/kg. Phân khúc nếp vẫn đi ngang, với nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp IR 4625 khô 9.500 – 9.700 đồng/kg; nếp 3 tháng khô khoảng 9.600 – 9.700 đồng/kg.

Ở chiều ngược lại, thị trường lúa tươi ghi nhận giao dịch chậm, giá tương đối ổn định. Tại An Giang, lúa Đông Xuân chào bán rải rác, lượng mua không nhiều, song lúa thơm có xu hướng được chào giá nhích nhẹ. Tại Cà Mau, lúa thơm giữ giá, lúa ST giảm nhẹ; giao dịch nhìn chung vẫn trầm lắng. Các địa phương như Cần Thơ, Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long và Tây Ninh đều ghi nhận giao dịch lúa Đông Xuân chậm, giá ít biến động.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa hôm nay không thay đổi so với hôm qua. Cụ thể, lúa OM 18 (tươi) và Đài Thơm 8 ở mức 6.300 – 6.500 đồng/kg; lúa IR 50404 (tươi) 5.500 – 5.600 đồng/kg; OM 5451 (tươi) 5.600 – 5.800 đồng/kg; OM 34 (tươi) 5.200 – 5.400 đồng/kg; lúa OM 4218 (tươi) dao động 6.000 – 6.200 đồng/kg.

Giá gạo xuất khẩu hôm nay 23.1

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo nhìn chung không thay đổi. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine của Việt Nam tiếp tục được chào bán quanh mức 442 – 446 USD/tấn. Gạo thơm 5% tấm dao động 410 – 430 USD/tấn, còn gạo trắng 5% tấm giữ ổn định ở mức 362 – 366 USD/tấn.

Tại Thái Lan, gạo trắng 5% tấm hiện được giao dịch trong khoảng 400 – 404 USD/tấn, cao nhất trong nhóm các quốc gia xuất khẩu chủ chốt. Trong khi đó, giá gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ duy trì ở mức 352 – 356 USD/tấn, gạo đồ 5% tấm đạt 356 – 360 USD/tấn. Ở Pakistan, gạo trắng 5% tấm được chào bán quanh 359 – 363 USD/tấn.

Theo Platts (S&P Global Energy), kế hoạch nhập khẩu khoảng 300.000 tấn gạo của Philippines trong tháng 2 được kỳ vọng sẽ giúp hoạt động giao dịch sôi động hơn, song khó tạo cú hích đáng kể về giá. Nguồn cung chủ yếu có thể đến từ vụ Đông Xuân của Việt Nam, tuy nhiên do không áp dụng hạn ngạch theo xuất xứ, gạo từ Thái Lan, Myanmar, Ấn Độ, Campuchia và Pakistan vẫn có cơ hội tham gia nếu đáp ứng yêu cầu về giá và quy định.

Động thái mở cửa nhập khẩu này diễn ra trong bối cảnh Philippines dự kiến siết chặt quản lý gạo từ năm 2026 nhằm bảo vệ nông dân trong nước. Manila đặt mục tiêu giảm lượng nhập khẩu xuống dưới 4 triệu tấn nhờ sản lượng nội địa đạt mức cao kỷ lục, đồng thời duy trì cơ chế tạm ngừng nhập khẩu kéo dài đến tháng 4/2026, chỉ mở “khung hạn chế” để tránh gây áp lực lên giá trong giai đoạn đầu vụ thu hoạch.

Thực tế thị trường cho thấy, dù tạm thời bỏ hạn chế theo nguồn gốc trong tháng 2, trần nhập khẩu 300.000 tấn vẫn được xem là khá thấp, làm giảm tính linh hoạt của người mua và khó tạo lực kéo giá. Năm 2025, Việt Nam xuất khẩu 3,2 triệu tấn gạo sang Philippines, giảm 24% so với cùng kỳ, phản ánh nhu cầu đã phần nào hạ nhiệt.

Trong bối cảnh đó, giá gạo Việt Nam tiếp tục duy trì trạng thái ổn định: gạo thơm 5% tấm ở mức 414 USD/tấn FOB và gạo trắng 5% tấm 354 USD/tấn, đều thấp hơn so với tháng trước. Khi nguồn cung vụ Đông Xuân sắp ra thị trường và tồn kho vẫn dồi dào, tác động từ kế hoạch nhập khẩu trong tháng 2 được dự báo chỉ mang tính “kích hoạt giao dịch”, khó tạo đà tăng giá rõ rệt trong ngắn hạn.

Hà Chi

Bạn đang đọc bài viết Giá lúa gạo hôm nay 23.1: Gạo nguyên liệu tăng nhẹ, xuất khẩu chững lại. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0937 68 8419 Hoặc email: [email protected]

Cùng chuyên mục

Tin mới