Đại biểu Quốc hội bàn giải pháp bảo vệ rừng đầu nguồn đến trồng “rừng đô thị”
Sáng nay, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XV, một trong những nội dung được nhiều đại biểu quan tâm thảo luận là giữ gìn, cải tạo, trồng mới hệ thống rừng – cây, để tăng diện tích phủ xanh cũng như giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Theo chương trình, sáng 28/10, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận ở hội trường về Báo cáo của Đoàn Giám sát và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về kết quả giám sát chuyên đề “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành”.

Toàn cảnh phiên họp.
Vẫn thiếu số liệu thống kê về công tác bảo vệ rừng

Cho ý kiến vào Báo cáo của Đoàn Giám sát, đại biểu Nguyễn Lân Hiếu (Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai) ghi nhận những kết quả mà ngành môi trường của nước ta đã đạt được trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, đại biểu cũng chỉ ra một bất cập là báo cáo giám sát đang thiếu nhiều con số thống kê liên quan đến lĩnh vực bảo vệ rừng. Đại biểu khẳng định: “Giá trị to lớn của rừng đã được khẳng định trong rất nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước nhưng diện tích rừng tự nhiên vẫn bị thu hẹp từ năm này sang năm khác và chưa có dấu hiệu dừng lại.”
Một trong những nguyên nhân khiến diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp được đại biểu chỉ ra là việc chuyển đổi rừng vì mục đích phát triển kinh tế. Theo đó, việc chuyển đổi rừng hiện nay vẫn theo cơ chế của từng tỉnh, nhưng lại chưa có một số liệu thống kê chung khiến kết quả của công tác bảo vệ rừng chưa thực sự rõ nét.
Đại biểu đề xuất: “Cần có các báo cáo cụ thể hơn về tình hình bảo vệ rừng tự nhiên của đoàn giám sát. Bao nhiêu rừng sẽ được sử dụng trong tương lai? Kế hoạch trồng lại như thế nào?… Trồng cây gì và kế hoạch trồng rừng để sản xuất cũng rất cần có những quy hoạch và đặc biệt là chúng ta cần phải điều tra tình trạng sử dụng gỗ quý tự nhiên để làm các vật dụng như bàn, ghế, tủ, giường. Rất cần các con số để chứng minh được chúng ta đang kiên quyết bảo vệ rừng và đã thu được những kết quả khả quan hay không trong thời gian vừa qua.”
Bên cạnh đó, đại biểu cũng đề xuất, ngành môi trường cần tham khảo các kinh nghiệm bảo vệ rừng từ một số nước phát triển trên thế giới như Na Uy, Trung Quốc..., để tăng cường hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng.
Chính sách đầu tư bảo vệ phát triển rừng chưa hấp dẫn

Cũng cho ý kiến vào công tác trồng rừng, tuy nhiên, đại biểu Nguyễn Thị Lan Anh (đoàn ĐBQH tỉnh Lào Cai) đề cập sâu nội dung tín chỉ carbon mà Việt Nam là một trong những nước có tiềm năng, trữ lượng lớn. Đại biểu chỉ rõ: “Việt Nam với tỉ lệ che phủ rừng đạt khoảng 42%, tập trung nhiều ở các tỉnh trung du và miền núi. Thậm chí, có những tỉnh như Tuyên Quang, Lạng Sơn, Lào Cai có tỉ lệ che phủ rừng lên tới 63 đến 65%. Điều này góp phần tạo nên bể chứa CO₂ khổng lồ. Khi được tham gia vào thị trường carbon, sẽ mang lại hàng triệu đô để hỗ trợ cộng đồng”.
Cũng theo đại biểu, nguồn thu này không chỉ giúp người dân giảm nghèo mà còn thúc đẩy các ngành kinh tế xanh, du lịch sinh thái, nông nghiệp sạch, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, biến thách thức biến đổi khí hậu thành cơ hội thịnh vượng lâu dài.
Tuy nhiên, thực tế là thị trường carbon trong nước mới đang vận hành thử nghiệm, trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon từ rừng còn hạn chế. Hơn nữa, hành lang pháp lý hiện nay còn thiếu đồng bộ; Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 thiếu quy định về hạn ngạch, phát thải, miễn phí và đấu giá, cũng như các loại phí, lệ phí liên quan; Thiếu các hướng dẫn chi tiết để triển khai dịch vụ carbon từ rừng như quyền sở hữu, trao đổi, chuyển nhượng, cơ chế quản lý sử dụng nguồn thu dịch vụ carbon rừng để có sự hài hòa lợi ích giữa nhà nước, người dân tham gia phát triển kinh tế rừng. Chính vì vậy đại biểu đề xuất một số giải pháp căn cơ:
Thứ nhất, cần phải hoàn thiện khung pháp lý và thể chế, sớm sửa đổi Luật Lâm nghiệp, Luật Bảo vệ môi trường theo hướng bổ sung các quy định điều kiện đối với nhà đầu tư tín chỉ carbon. Quy định về tỉ lệ hạn ngạch phát thải khí nhà kính được phân bổ miễn phí thông qua đấu giá, trách nhiệm công tác thanh tra, kiểm tra, bổ sung các loại phí, lệ phí liên quan đến cơ chế trao đổi bù trừ tín chỉ carbon. Ban hành một số quy định trao đổi quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon. Quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu trữ carbon của rừng, chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ tài chính và khuyến khích đầu tư vào các dự án như năng lượng tái tạo, nông nghiệp bền vững và bảo vệ rừng.
Thứ hai, sớm vận hành chính thức sàn giao dịch carbon quốc gia, thúc đẩy sàn giao dịch carbon quốc gia sớm vận hành theo đề án đề ra, tạo nền tảng minh bạch, tăng kiểm soát giá trị tín chỉ và phân phối lợi ích trực tiếp cho cộng đồng, quan tâm đến các địa phương có tỉ lệ che phủ rừng lớn, sớm được tham gia vào thị trường carbon, hỗ trợ kỹ thuật và tài chính để giúp doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào thị trường này.
Thứ ba, ưu tiên phát triển rừng đa tầng bản địa để vừa phòng chống thiên tai, vừa xây dựng vùng sinh thái carbon trọng điểm.
Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế để thúc đẩy, chuyển giao công nghệ và mở rộng thị trường tín chỉ carbon. Đồng thời cần xây dựng thỏa thuận song phương với các quốc gia phát triển xuất khẩu tín chỉ carbon, mang lại nguồn ngoại tệ và nâng cao vị thế của Việt Nam.
4 nhóm giải pháp liên quan để phát triển “rừng trong đô thị”

Cho ý kiến vào một nội dung mới, được ví như “trồng rừng đô thị”, đại biểu Trần Văn Tuấn, Đoàn ĐBQH tỉnh Bắc Ninh chỉ rõ, hiện nay diện tích hai bên ven đường của các tuyến đường quốc lộ, đường trong đô thị ở nước ta khá lớn, trong khi luật hiện hành lại chưa có quy định cụ thể để vừa khuyến khích, vừa bắt buộc trồng cây xanh ở hai bên ven đường giao thông. Điều này dẫn tới tình trạng diện tích phần hai ven đường giao thông chủ yếu là cỏ dại mọc, buộc các địa phương phải thường xuyên đốt cỏ hoặc dùng thuốc diệt cỏ để diệt, dẫn tới ô nhiễm môi trường rất lớn. Trong khi đó, nếu trồng được hệ thống cây hai bên đường, sẽ giải quyết được nhiều bài toán cùng lúc như tạo cảnh quan, giảm thiểu ô nhiễm môi trường... Chính vì vậy, đại biểu đề xuất 4 nhóm giải pháp liên quan để phát triển “rừng trong đô thị”.
Thứ nhất, nhóm giải pháp chính sách về tài chính. Đại biểu Trần Văn Tuấn cho rằng, cần nghiên cứu để có những chính sách cụ thể về tài chính, nhằm hỗ trợ trực tiếp cho các cộng đồng, cho các doanh nghiệp trong việc trồng cây xanh ở hai bên ven đường. Cụ thể, cần có quy định cụ thể về ưu đãi thuế phí đối với những doanh nghiệp tham gia trồng cây xanh ở hai bên ven đường; hay miễn giảm phí sử dụng lòng đường, lề đường quảng cáo ngoài trời cho doanh nghiệp trồng cây xanh ở hai bên ven đường; lập quỹ trồng cây xanh cộng đồng trên nguyên tắc vừa từ ngân sách và vừa từ nguồn xã hội hóa.
Thứ hai, nhóm giải pháp chính sách về cộng đồng, chính sách truyền thông. Theo đại biểu, cần tiếp tục thúc đẩy phong trào Tết trồng cây và Ngày Môi trường thế giới một cách thiết thực hơn, qua đó nâng cao nhận thức của các cộng đồng, các doanh nghiệp, các cá nhân và huy động các nguồn lực cho việc này. Đại biểu đề xuất: “Công nhận, vinh danh doanh nghiệp, cá nhân trồng cây, chăm sóc cây. Coi việc trồng cây là một trong những điểm cộng khi chúng ta cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp xanh. Gắn việc trồng cây, chăm sóc cây xanh với trách nhiệm xã hội. Qua đó để khuyến khích doanh nghiệp trồng cây như là hoạt động để góp phần nâng cao thêm uy tín, thương hiệu của mình.”
Thứ ba, nhóm giải pháp chính sách về quy hoạch. Đại biểu Trần Văn Tuấn đề xuất, cần quy định cụ thể về xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp phải gắn kèm với trách nhiệm trồng cây dọc các tuyến giao thông kết nối. Cần giao chỉ tiêu cụ thể cho các địa phương trong việc trồng cây hàng năm, trong đó nhấn mạnh tới kế hoạch trồng cây ở hai bên tuyến đường giao thông.
Thứ tư, nhóm chính sách đổi mới sáng tạo và văn hóa. Đại biểu cho rằng, cần phải cụ thể chính sách về nhận nuôi, chăm sóc cây xanh. Đại biểu cũng đề xuất: “Cần nghiên cứu ứng dụng công nghệ để cho cộng đồng, cho từng người dân, từng doanh nghiệp phản ánh về tình trạng cây xanh ở hai bên ven đường, giúp tìm biện pháp chăm sóc và bảo vệ cây phù hợp.”
Bên cạnh đó, đại biểu cũng đề nghị, cần tiếp tục nghiên cứu để điều chỉnh, thêm quy định phù hợp trong việc chọn lựa các loại cây có tính biểu tượng cao, giúp các địa phương không chỉ hoàn thiện hệ thống cảnh quan, mà còn tạo ra bản sắc văn hoá vùng miền riêng biệt.
Trồng, bảo vệ và phục hồi rừng để ứng phó biến đổi khí hậu
Để tăng cường bảo vệ rừng đầu nguồn và nâng cao ngân sách môi trường, đại biểu Chu Thị Hồng Thái (Đoàn Lạng Sơn) nhấn mạnh nhu cầu chú trọng trồng, bảo vệ và phục hồi rừng đầu nguồn cũng như rừng phòng hộ ven biển để ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu, đặc biệt trong bối cảnh ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn và tỷ lệ xử lý nước thải chỉ đạt 18%. Đại biểu này cũng đề xuất tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ số cho quản lý môi trường cấp xã, nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng và giảm thiểu rủi ro sạt lở.

Cụ thể, theo đại biểu Chu Thị Hồng Thái:
Thứ nhất, về tình trạng ô nhiễm môi trường, theo đại biểu, ô nhiễm vẫn diễn biến phức tạp, đặc biệt là ô nhiễm không khí tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và ô nhiễm nguồn nước tại các lưu vực sông lớn như sông Cầu, sông Nhuệ, sông Đáy, Bắc Hưng Hải. Đáng lo ngại, tỉ lệ nước thải đô thị được xử lý mới chỉ đạt khoảng 18%. Trong khi đó, việc chôn lấp trực tiếp chất thải rắn sinh hoạt vẫn chiếm tỉ lệ rất cao, hơn 62,97%, dẫn đến ô nhiễm nguồn nước.
Theo đại biểu, vấn đề phân loại rác thải tại nguồn, dù đã có quy định từ năm 2022, vẫn chưa phát huy được ý nghĩa và hiệu quả thực tế do thiếu hạ tầng. Trên thực tế, phần lớn các loại rác thải vẫn được thu gom chung trong quá trình vận chuyển, nguyên nhân là do nhiều doanh nghiệp, đơn vị thu gom còn hạn chế về đầu tư công nghệ kỹ thuật.
Đại biểu Hồng Thái cũng chỉ ra rằng, việc xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng hình thức chôn lấp chiếm tỉ lệ cao đang gây quá tải và thiếu quỹ đất, nhất là ở khu vực đô thị. Phụ lục báo cáo giám sát cho thấy có đến 33/64 điểm nóng bị ô nhiễm tại các địa phương là các bãi rác và bãi chôn lấp chất thải. Đại biểu kiến nghị áp dụng các giải pháp công nghệ xử lý chất thải hiện đại, thân thiện với môi trường để thay thế dần phương thức chôn lấp truyền thống.
Thứ hai, về năng lực quản lý nhà nước về môi trường ở cấp xã, theo đại biểu, đây là cấp trực tiếp nắm tình hình phát sinh ô nhiễm nhưng năng lực còn nhiều hạn chế. Cán bộ phụ trách môi trường hầu hết là kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực, thiếu chuyên môn sâu. Nguồn lực tài chính, trang thiết bị, phương tiện phục vụ giám sát, xử lý ô nhiễm còn rất thiếu thốn.
Do đó, đại biểu kiến nghị Chính phủ chỉ đạo bố trí cán bộ chuyên trách về môi trường cấp xã có trình độ phù hợp, xây dựng chính sách đào tạo và đãi ngộ hợp lý, đồng thời tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và sử dụng công nghệ số để quản lý và cảnh báo sự cố kịp thời.
Thứ ba, về ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu, theo đại biểu, gần đây, thiên tai diễn biến ngày càng cực đoan, bất thường, gây hậu quả nặng nề. Các đợt bão, lũ quét, sạt lở đất, hạn hán đã làm thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, gây áp lực lớn cho công tác an sinh xã hội. Đại biểu kiến nghị chú trọng trồng rừng, bảo vệ và phục hồi rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ ven biển, coi đây là giải pháp căn cơ lâu dài để giảm thiểu thiệt hại và bảo vệ môi trường sinh thái...
Ngoài ra, còn nhiều đại biểu có những ý kiến bổ sung, đóng góp ý kiến về nội dung này. Trong đó, đại biểu Thạch Phước Bình (Vĩnh Long) cho rằng bảo vệ môi trường, bao gồm rừng, không phải là sự đánh đổi với tăng trưởng kinh tế mà là nền tảng cho phát triển bền vững lâu dài. Ông phát biểu: "lần đầu tiên, chúng ta đặt thiên nhiên ngang hàng với con người, coi bảo vệ môi trường là nền tảng của tăng trưởng, chứ không phải là cái giá phải trả cho phát triển".
Tuy nhiên ông nhìn nhận công tác kiểm soát ô nhiễm có tiến bộ nhưng chưa bền vững.

Ông đề xuất đưa "GDP xanh" và "tăng trưởng carbon thấp" vào chỉ tiêu quốc gia, đồng thời tăng ngân sách cho môi trường từ mức hiện tại 1,2% tổng chi ngân sách lên cao hơn, vì "một đồng chi cho môi trường hôm nay sẽ tiết kiệm hàng chục đồng cho y tế và khắc phục thiên tai ngày mai". Liên quan đến rừng, đại biểu nhấn mạnh cần hành động mạnh mẽ để tránh ô nhiễm cuốn trôi thành tựu kinh tế, đặc biệt khi bụi mịn tại Hà Nội vượt ngưỡng WHO 5-7 lần.
Đại biểu Thạch Phước Bình nêu ý kiến: Chính phủ cần ban hành chính sách tài chính xanh quốc gia, phát hành trái phiếu khí hậu, thành lập quỹ xanh địa phương và ưu đãi thuế cho doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch.
"Một đồng chi cho môi trường hôm nay sẽ tiết kiệm hàng chục đồng cho y tế và khắc phục thiên tai ngày mai", ông Bình phát biểu và đề nghị đổi mới quản trị, chuyển từ "kiểm soát" sang "giám sát thông minh".
Địa phương cũng cần được phân cấp mạnh theo nguyên tắc "địa phương quyết - địa phương làm - địa phương chịu trách nhiệm". Công nghệ chính là "cánh tay nối dài" của trách nhiệm công quyền.
Ông nhấn mạnh bảo vệ môi trường không phải là sự đánh đổi với tăng trưởng, đó chính là nền tảng để phát triển lâu dài.
"Nếu chúng ta không hành động mạnh mẽ hôm nay, mai này mọi thành tựu kinh tế sẽ bị dòng nước ô nhiễm, không khí ngột ngạt cuốn trôi", ông Bình nêu thêm.
Ngoài ra, một số đại biểu khác như Nguyễn Ngọc Sơn (Hải Phòng) lo ngại ngân sách môi trường hiện chỉ chiếm 0,7% tổng chi (nhiều địa phương dưới 0,3%), đề xuất quy định tối thiểu 1% để đảm bảo đầu tư cho bảo vệ rừng và kiểm soát ô nhiễm. Đoàn giám sát và các đại biểu cũng chỉ ra rằng, dù không thiếu luật pháp, vấn đề cốt lõi là thiếu ý thức và trách nhiệm thực thi, dẫn đến tình trạng phá rừng và ô nhiễm kéo dài, ảnh hưởng gián tiếp đến hệ thống rừng đầu nguồn – yếu tố then chốt chống lũ lụt nghiêm trọng gần đây ở vùng núi phía Bắc.
Ngoài các ý kiến trên, một số đại biểu cũng đề xuất cần quản lý chặt chẽ hơn tài nguyên rừng đầu nguồn, tránh tình trạng khai thác quá mức làm suy giảm nghiêm trọng hệ thống rừng đầu nguồn, khiến tình trạng sạt lở ở nhiều tỉnh vùng núi phía Bắc nước ta thời gian qua ngày càng diễn biến khó lường. Các giải pháp cần được triển khai đồng bộ, kết hợp giữa pháp lý, tài chính và nâng cao nhận thức cộng đồng để bảo vệ và phát triển bền vững hệ thống rừng – cây.
Bảo Loan














