Văn hóa Việt thắp sáng kinh tế xanh
Văn hóa truyền thống Việt Nam, với triết lý sống hài hòa với thiên nhiên và tư duy sản xuất bền vững, chính là “ngọn đuốc” dẫn đường cho nền kinh tế xanh hiện đại.
“Gen Xanh” trong văn hóa Việt
Khác với quan điểm cũ thường xem văn hóa chỉ là “phần mềm” đi kèm hay một yếu tố tinh thần tách biệt với các chỉ số kinh tế khô khan, tư duy phát triển mới đang chứng minh điều ngược lại. Văn hóa, đặc biệt là triết lý sống hài hòa với thiên nhiên của người Việt, chính là hạ tầng cơ sở quan trọng nhất cho nền kinh tế xanh. Những khái niệm của thế kỷ 21 như Kinh tế tuần hoàn, Tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) hay Net Zero, thực chất đã chảy ngầm trong huyết quản của dân tộc Việt từ thuở khai thiên lập địa.
Để hiểu vì sao văn hóa lại trở thành động lực kinh tế, chúng ta cần nhìn lại cách mà cha ông ta đã kiến tạo cuộc sống suốt hơn 4.000 năm qua. Không giống như tư duy công nghiệp phương Tây thời kỳ đầu vốn coi thiên nhiên là đối tượng để chinh phục và khai thác, văn hóa Việt Nam được xây dựng trên nền tảng của triết lý “Thuận Thiên”.
Trong tâm thức của người Việt cổ, con người không phải là chủ nhân mà là một thành tố bình đẳng trong thế kiềng ba chân “Thiên - Địa - Nhân”. Sự tồn tại của con người phụ thuộc vào “quyền năng” của Đất và Trời. Chính vì thế, sự tôn trọng hệ sinh thái xung quanh không phải là việc áp đặt bằng các quy định pháp luật, mà trở thành lẽ tự nhiên.

Đôi vợ chồng người Dao địu con đi hái chè Xuân trên đỉnh Tây Côn Lĩnh. Ảnh: Đức Thọ - TTXVN
Có thể nói, dân tộc Việt Nam đã mang trong mình một “mã gen xanh”. Nó xuất hiện rất rõ nét trong mô hình sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp truyền thống. Người nông dân Việt Nam đã thực hành nó một cách nhuần nhuyễn thông qua mô hình VAC (Vườn - Ao - Chuồng). Đây là một hệ sinh thái khép kín hoàn hảo mà ở đó, khái niệm rác thải dường như không tồn tại.
Những dấu hiệu kinh tế gắn với văn hóa còn thể hiện qua các làng nghề thủ công truyền thống trải dài khắp dải đất hình chữ S. Ở làng gốm Bát Tràng, làng lụa Vạn Phúc hay các làng nghề mây tre đan…, người nông dân tận dụng đến từng mấu tre, từng vụn vải, từng mảnh gốm vỡ. Đó không đơn thuần là sự tằn tiện của thời kỳ khó khăn, mà là một triết lý về sự trân trọng tạo vật của đất trời.
Hơn thế nữa, văn hóa Việt còn chứa đựng một sức mạnh mềm to lớn khác: khả năng thích ứng linh hoạt. Hình ảnh cây tre Việt Nam với gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển được nhắc đến như biểu tượng của đường lối ngoại giao, và nay nó cũng chính là triết lý cho sự phát triển kinh tế trước các thách thức từ biến đổi khí hậu.
Người Việt không chọn cách đối đầu thô bạo với thiên nhiên, mà chọn cách “nương” theo nó để tồn tại và phát triển. Khi nước biển dâng, thay vì chỉ đắp đê ngăn mặn, người nông dân Đồng bằng sông Cửu Long chuyển đổi sang mô hình lúa - tôm, biến nguy cơ thành sinh kế. Sự linh hoạt này là một đặc tính văn hóa cực kỳ quý giá trong một thế giới đầy biến động. Nó giúp nền kinh tế Việt Nam có “sức đề kháng” cao trước các cú sốc môi trường, giảm thiểu thiệt hại và duy trì đà tăng trưởng ổn định.
Trong nền tảng tư tưởng và văn hóa Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về lối sống giản dị, tiết kiệm, hài hòa với thiên nhiên đã sớm gợi mở những giá trị cốt lõi của văn hóa xanh. Truyền thống văn hóa cộng đồng, tinh thần tương thân tương ái, biết trân trọng và gìn giữ môi trường sống của dân tộc Việt Nam là nền tảng quan trọng để hình thành và lan tỏa lối sống bền vững trong bối cảnh hiện đại.
Theo PGS.TS Vũ Trọng Lâm, Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, sự phát triển tổng thể sức mạnh quốc gia và khả năng phục hồi kinh tế của một quốc gia ngày càng phụ thuộc vào sức mạnh mềm văn hóa của quốc gia đó.
PGS.TS Vũ Trọng Lâm nhấn mạnh, để thúc đẩy sự phát triển đồng bộ nền kinh tế, không chỉ cần tiến hành cải cách hệ thống kinh tế tương ứng, mà còn phải nâng cao năng lực cạnh tranh về văn hóa nói riêng, sức mạnh văn hóa nói chung. Đây là sự lựa chọn tất yếu để thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế, xã hội và con người.
“Trong đó, vai trò của văn hóa đối với việc thúc đẩy, hướng dẫn và hỗ trợ phát triển kinh tế ngày càng rõ nét, như nhà xã hội học, kinh tế học Max Weber từng khẳng định: Chúng ta nên lý giải vai trò của văn hóa từ những yếu tố quyết định đến sự thịnh vượng của nền kinh tế; sở dĩ các nước phương Đông và phương Tây quyết định lựa chọn con đường phát triển khác nhau là do các yếu tố đặc điểm văn hóa truyền thống không giống nhau; trong quá trình phát triển của nền kinh tế - xã hội nói chung đó, văn hóa có vai trò giúp chúng ta khai mở những cách nhìn mới” - PGS.TS Vũ Trọng Lâm khẳng định.

Ngày nay, nhìn vào những gì thế giới đang trải qua khi phát triển “nóng” và khai thác quá mức, Việt Nam một lần nữa trở lại với triết lý xưa bằng ngôn ngữ hiện đại: phát triển xanh. Trong diễn văn tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngành Nông nghiệp và Môi trường, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nói một câu giản dị mà sâu sắc: “Thiên nhiên là bạn đồng hành của phát triển”.
Đó không chỉ là thông điệp về bảo tồn, mà là một tầm nhìn văn hóa. Bởi trong tâm thức người Việt Nam, thiên nhiên còn là bạn tri kỷ, nơi con người gửi gắm niềm tin, lòng biết ơn và đạo lý. Mỗi dòng sông là một ký ức, mỗi cánh rừng là một nhân chứng, mỗi ngọn núi là một phần linh hồn đất nước.
Từ cách ta gọi “Mẹ thiên nhiên”, đến những câu phương ngôn như “Tấc đất tấc vàng”, “Rừng vàng, biển bạc”, có thể thấy thiên nhiên trong văn hóa Việt Nam luôn được nhân hóa, được gắn với tình thương và đạo lý. Chính vì thế, khi Việt Nam chọn con đường phát triển xanh, đó không phải là sự sao chép mô hình quốc tế, mà là sự trở về với căn tính - với bản sắc của một dân tộc sống hài hòa cùng tự nhiên.
Chính “bộ gen xanh” này là bệ phóng vững chắc để Việt Nam tự tin bước vào sân chơi kinh tế xanh toàn cầu, nơi mà các tiêu chuẩn ESG đang trở thành “giấy thông hành” bắt buộc.
Bính Ngọ 2026 và cú hích tăng trưởng
Có thể thấy rất rõ ràng rằng, các giá trị văn hóa Việt Nam được nuôi dưỡng qua hàng ngàn năm sẽ trở thành động lực vững chắc cho một nền kinh tế xanh mà chúng ta đang hướng tới.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Viết Chức - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội (nay là Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội) - Đảng ta nhận thức ngày càng rõ hơn vị thế, vai trò của văn hóa trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, coi văn hóa là cái đích cần đạt được bên cạnh những thành tựu về kinh tế. Đồng thời đặt văn hóa là yếu tố nền tảng, là động lực, là nguồn lực nội sinh cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
“Tuy nhiên, đáng tiếc là trong quá trình đổi mới, nhiều nơi còn để tư tưởng ‘kinh tế đi trước một bước’ mà chưa thực sự chú trọng đến việc bồi đắp, xây dựng và phát triển văn hóa. Kinh tế đi trước không có nghĩa là quên văn hóa, để văn hóa tụt lại phía sau” - TS Nguyễn Viết Chức bày tỏ.

Cùng quan điểm với TS Nguyễn Viết Chức, trong buổi chia sẻ với GenClub - Câu lạc bộ Doanh nhân truyền cảm hứng, nhà sử học Dương Trung Quốc bày tỏ niềm tin và khuyến khích các bạn trẻ nuôi dưỡng tình yêu với văn hóa, lịch sử Việt Nam, bởi chính điều đó sẽ tạo nên bản sắc riêng, sức mạnh riêng cho doanh nghiệp của mình trên hành trình hội nhập.
“Lịch sử không phải là những gì đã qua đi và bị bỏ lại. Nó là nền tảng, là gốc rễ để chúng ta đứng vững và vươn lên. Thế hệ các bạn hôm nay có trong tay công nghệ, kiến thức và cơ hội mà cha ông chưa từng có. Nhưng đừng quên rằng, sức mạnh bền vững nhất lại đến từ việc thấu hiểu cội nguồn, biết trân trọng những giá trị căn bản. Một doanh nhân chân chính, trước hết phải là một công dân có trách nhiệm với cộng đồng và với lịch sử của chính mình” - nhà sử học Dương Trung Quốc chia sẻ.
Một nền kinh tế xanh không chỉ là chương trình kỹ thuật và kinh tế, mà sâu xa hơn là cuộc cách mạng về văn hóa. Chính văn hóa, với khả năng định hình giá trị, chuẩn mực và lối sống, mới bảo đảm cho chính sách, công nghệ hay mô hình kinh tế xanh đi vào cuộc sống. Đối với Việt Nam, con đường chuyển đổi xanh gắn liền với lựa chọn văn hóa đặc thù, được xây dựng trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh và truyền thống cộng đồng dân tộc.
Theo PGS.TS. Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội - nếu khoa học và công nghệ là “động cơ cứng” của chuyển đổi xanh, thì văn hóa chính là “động lực mềm” dẫn dắt, điều chỉnh và bảo đảm cho tiến trình chuyển đổi xanh trong kinh tế diễn ra bền vững. Không có sự thay đổi từ bên trong con người, các chính sách và giải pháp kỹ thuật sẽ khó có thể đi vào đời sống.
Khi văn hóa được đặt ở vị trí trung tâm, chuyển đổi xanh không còn là mệnh lệnh hành chính mà trở thành nhu cầu tự thân của xã hội, được nuôi dưỡng từ niềm tin và khát vọng của người dân. Văn hóa chính là chiếc cầu nối con người với thiên nhiên trong kỷ nguyên phát triển mới, vừa là nền tảng tinh thần, vừa là động lực mềm, vừa là mục tiêu cuối cùng của phát triển bền vững.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, thế giới đang chứng kiến cuộc “di cư” của nhu cầu tiêu dùng từ số lượng sang chất lượng. Đây là cơ hội “vàng” để nông nghiệp Việt Nam thoát khỏi cái bẫy giá rẻ.
Những nông sản Việt bước ra thế giới năm 2026 không chỉ mang theo hương vị nhiệt đới, mà còn mang theo câu chuyện văn hóa. Một gói trà Shan Tuyết cổ thụ không chỉ được định giá bởi vị chát ngọt, mà bởi câu chuyện về cộng đồng người dân tộc vùng cao sống cộng sinh với rừng già, bảo vệ những cây chè hàng trăm năm tuổi như những vị thần. Một hạt gạo hữu cơ không chỉ là tinh bột, mà là kết tinh của quy trình canh tác “con trâu đi trước, cái cày theo sau” đã được hiện đại hóa, nơi đất đai được nghỉ ngơi và bồi bổ thay vì bị vắt kiệt bởi hóa chất.

Văn hóa chính là yếu tố “thổi hồn” vào sản phẩm, cho phép Việt Nam định vị lại thương hiệu quốc gia ở phân khúc cao cấp, thu về giá trị kinh tế lớn hơn gấp nhiều lần trên cùng một diện tích canh tác.
Đối với ngành du lịch, ngành công nghiệp không khói được kỳ vọng bùng nổ trong năm 2026, văn hóa bản địa chính là mỏ vàng lộ thiên chưa được khai thác hết. Xu hướng du lịch hậu đại dịch và trong kỷ nguyên xanh đã thay đổi hoàn toàn khi du khách khao khát sự kết nối, sự chữa lành và tìm về những giá trị nguyên bản.
Du khách đến Việt Nam để được sống trong những ngôi nhà trình tường mát mẻ vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông; để được tham gia vào quy trình làm giấy dó, dệt vải lanh hoàn toàn tự nhiên; để được hít thở bầu không khí của một xã hội trọng tình nghĩa. Phát triển du lịch dựa trên nền tảng văn hóa không chỉ mang lại doanh thu khổng lồ mà còn giải quyết bài toán bền vững: người dân bản địa chính là những người bảo vệ rừng, bảo vệ cảnh quan tốt nhất vì đó là “nồi cơm”, là không gian sống và là di sản của tổ tiên họ.
Cuối cùng, không thể không nhắc đến “nguồn vốn xã hội” đặc biệt mà văn hóa mang lại cho mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trở lên: đó là lòng yêu nước và khát vọng tự cường. Lịch sử đã chứng minh, mỗi khi đất nước đứng trước những thử thách lớn, tinh thần dân tộc lại trở thành động lực vô song để tạo nên những kỳ tích.
Năm Bính Ngọ 2026, với biểu tượng con ngựa dũng mãnh, là thời điểm để khơi dậy khát vọng này trong phát triển kinh tế. Khi mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp ý thức được rằng làm kinh tế xanh, bảo vệ môi trường chính là cách thiết thực nhất để yêu nước, để bảo vệ giang sơn gấm vóc cho con cháu, thì sức mạnh đó sẽ lớn hơn bất kỳ nguồn vốn đầu tư nào. Tinh thần Tết, tinh thần của sự khởi đầu mới, của niềm tin và hy vọng, sẽ là chất xúc tác để kết nối hơn 100 triệu người dân Việt Nam thành một khối thống nhất, cùng nhau hiện thực hóa khát vọng thịnh vượng.
Nhìn lại chặng đường hàng nghìn năm qua, văn hóa Việt Nam chưa bao giờ đứng ngoài dòng chảy của lịch sử. Và hôm nay, đứng trước vận hội mới của năm 2026, văn hóa một lần nữa chứng minh vai trò tiên phong của mình. Không phải là lực cản, văn hóa chính là bệ phóng; không phải là quá khứ, văn hóa chính là tương lai.
Bằng việc thắp sáng ngọn đuốc văn hóa, Việt Nam đang tự tin bước đi trên con đường của riêng mình: con đường tăng trưởng xanh, nhanh nhưng bền vững, hiện đại nhưng đậm đà bản sắc. Đó là lời khẳng định đanh thép nhất của một dân tộc đang vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình, mang theo sức sống mãnh liệt của mùa xuân để kiến tạo nên những kỳ tích mới.
Hà Sơn














