Từ Đổi mới 1986 đến Kỷ nguyên vươn mình 2026 - Bước phát triển vượt bậc của đất nước
Từ Đổi mới 1986 đến Kỷ nguyên vươn mình 2026 là hành trình 40 năm chuyển hóa tư duy và mô hình phát triển của Việt Nam. Những thành tựu tích lũy hôm nay đang tạo bệ phóng để đất nước tự tin bước vào giai đoạn phát triển mới.
Bối cảnh
Những ngày này, người dân Việt Nam đang sống với niềm vui, niềm hân hoan cùng những thành công vang dội của đất nước. Đại hội Đảng lần thứ XIV đã thành công tốt đẹp, đã chọn bầu được các Ủy viên Trung ương để gánh vác những trọng trách to lớn, lãnh đạo đất nước trong thời gian tới, thời gian đầu của Thời kỳ vươn mình của dân tộc Việt Nam.
Mùa xuân đến là dịp ôn cố tri tân đối với nhiều người và tôi cũng vậy. Nhớ lại 40 năm về trước, đất nước ta cũng đã trải qua một dấu mốc quan trọng, đó là thành công của Đại hội Đảng lầ thứ VI, được coi là điểm khởi đầu của công cuộc, thời kỳ đổi mới. Tôi cho rằng, công cuộc đổi mới chưa dừng lại mà bước sang trang mới trong bối cảnh đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
Chắc chắn sẽ có những công trình nghiên cứu, đánh giá thêm thành công của 40 năm thực hiện đổi mới cùng những thành tựu to lớn mà toàn Đảng, toàn Dân Việt Nam thu được. Đồng thời sẽ có đề tài nghiên cứu làm rõ hơn nội hàm của Kỷ nguyên vươn mình, những gì chúng ta phải thực hiện để đạt được những mục tiêu to lớn mà Đại hội Đảng XIV đề ra khi chào mừng 100 năm thành lập Đảng (03/02/2030), 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Là một công dân được sống, chứng kiến nhiều dấu mốc lịch sử dân tộc từ những năm 1960 đến nay, tôi chỉ xin nêu một số cảm nhận, suy nghĩ của mình về quá trình phát triển đất nước trong những năm thực hiện công cuộc, thời kỳ đổi mới và những gì nhận thức được, hy vọng đạt được khi bước vào thời kỳ đầu của Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Đêm trước Đổi mới
Sẽ không thể hiểu được vai trò, tầm quan trọng và những thành tựu to lớn của Việt Nam trong 40 năm qua nếu không biết được hoàn cảnh ra đời của công cuộc đổi mới.
Là người được sống trong giai đoạn đầu dộc lập, thống nhất của đất nước sau Giải phóng miền Nam năm 1975 đến trước Đại hội VI của Đảng, tôi nhận biết được hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ với rất nhiều những đổi thay đáng ghi nhận, cả theo chiều tích cực lẫn đôi điều tiêu cực.
Trước hết, chúng ta đã hoàn toàn giải phóng miền Nam, kết thúc thắng lợi kháng chiến chống Mỹ gần 20 năm của dân tộc, thu non sông về một mối. Cuộc kháng chiến này rất gian khổ, đã tiêu tốn sức người, sức của rất lớn của đất nước. Nhiều thanh niên, lực lượng lao động sung sức đã ngã xuống, hy sinh vì bảo vệ đất nước và cả vì thực hiện ý đồ của Mỹ, Ngụy. Cơ sở hạ tầng ở cả hai miền bị tàn phá nghiêm trọng. Hầu như không còn một nhà máy, một con đường, cầu cống, hải cảng, sân bay nào còn nguyên vẹn. Đặc biệt, Mỹ, Trung Quốc và các nước chư hầu tiến hành một âm mưu rất thâm độc, đó là cấm vận mọi mặt đối với Việt Nam. Ngoài Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và một số nước thuộc Thế giới thứ ba, đất nước ta không thể tiếp cận được với các nguồn lực bên ngoài.
Chính vì vậy, nhiều thành tựu khoa học chúng ta không tiếp cận được, đến nỗi sản xuất lương thực không đạt được năng suất sản lượng cao (do thiếu/không có phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật đặc hiệu) dẫn đến thiếu lương thực trầm trọng, đói kém diễn ra ở khắp nơi. Một nguyên nhân nữa mang tính chủ quan là đường lối kinh tế đất nước được vận hành theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hầu như mọi khâu trong nền kinh tế, từ quyết định sản xuất gì, sản xuất như thế nào, vận chuyển, phân phối ra sao đều do Nhà nước quyết định thực hiện. Trong khi tiềm lực, cơ sở hạ tầng, năng lực của Nhà nước có hạn, không thể bao quát hết. Thế là nhiều hệ lụy đã diễn ra, mọi người dân đang từ vui mừng tự hào vì thống nhất đất nước lại chùng xuống, lo ngại về cuộc sống đang quá khó khăn và con đường tiếp theo chưa được xác lập rõ ràng.
Một điều nữa cần được nhấn mạnh là từ năm 1979 đến năm 1989, Việt Nam phải gồng mình chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc và giúp nước bạn Campuchia dẹp tan bọn diệt chủng Pol Pot, xây dựng lại quê hương.
Và, còn nhiều khó khăn nữa không thể kể hết trong một bài viết. Tuy nhiên chúng ta cũng có những thuận lợi rất cơ bản, đó là:
- Có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản với những quyết sách đúng dắn, hợp thời.
- Có sự tin tưởng, đồng lòng, chung sức của đại đa số nhân dân, một mặt góp phần đấu tranh chỉ rõ những yếu kém của cơ chế đã lỗi thời, mặt khác sẵn sàng ủng hộ những quyết sách mới, có tính sáng tạo và tính khả thi, hiệu quả cao.
- Có sự giúp sức hỗ trợ của Liên Xô, các nước XHCN Đông Âu và của nhiều nước khác, điển hình như sự giúp đỡ vô tư của Iraq và cá nhân Tổng thống Saddam Hussain.
Qua đó, Việt Nam đã tìm được hướng đi mới, cơ chế mới để đưa đất nước ra khỏi sự trì trệ, phát triển kinh tế nhanh, mạnh, nâng cao đời sống nhân dân mà vẫn giữ được định hướng XHCN.

Tiến trình đổi mới và thành tựu thu được làm Bệ phóng cho Kỷ nguyên vươn mình
Tiến trình đổi mới đã được tổng kết, trình bày trong nhiều văn kiện của Đảng, trong các công trình nghiên cứu khoa học tầm cỡ quốc gia. Tuy nhiên, dưới góc độ cá nhân chỉ xin nêu một số cảm nhận của mình như sau:
Trước hết là đổi mới tư duy, đặc biệt là tư duy phát triển kinh tế. Nếu như cơ chế phát triển theo mô hình kinh tế Kế hoạch hóa tập trung đã thu được nhiều kết quả ở miền Bắc trước năm 1975, góp phần rất lớn vào việc huy động sức người, sức của để tiến hành thắng lợi công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc thì sau 1975, mô hình này không còn phù hợp, đặc biệt là không giải phóng được sức dân để phát triển kinh tế. Vấn đề là phải đổi mới tư duy để tìm được cơ chế phát triển kinh tế mới phù hợp hơn và chúng ta đã chuyển đổi được sang nền kinh tế Thị trường nhưng theo định hướng XHCN.
Có lẽ, một trong những đổi mới có nhiều băn khoăn nhất là chấp nhận, cho phép hoạt động của kinh tế tư nhân (KTTN) vốn được coi là thành phần kinh tế phải được cải tạo sau 1975. Nhưng vào thời kỳ đổi mới, KTTN được chấp nhận và từng bước đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước. Đại hội VI (1986) được coi là Bước ngoặt tư duy trong nhìn nhận lại vai trò của KTTN. Lần đầu tiên công nhận kinh tế cá thể, tiểu chủ là thành phần kinh tế hiện hữu lâu dài, có vai trò tích cực trong phát triển sản xuất và đời sống nhân dân. Tuy chưa gọi rõ là KTTN, nhưng đây là giai đoạn mở đường cho nhận thức cởi mở hơn về thành phần kinh tế này. Trong Cương lĩnh năm 1991 (Đại hội VII) của Đảng đã ghi nhận 5 thành phần kinh tế, trong đó có "kinh tế cá thể, tiểu chủ", và "kinh tế tư bản tư nhân", bước đầu xác lập vị trí trong cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần.
Đến Đại hội IX (2001): Bắt đầu nhìn nhận KTTN là một trong những động lực của nền kinh tế. Các tài liệu tiếp sau như Văn kiện Đại hội Đảng X (2006), Cương lĩnh bổ sung năm 2011, văn kiện Đại hội XII (2016), Nghị quyết số 10-NQ/TW (2017), Đại hội XIII (2021) đã tiếp tục khẳng định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng, cần tạo điều kiện thuận lợi để khu vực này phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng với các thành phần khác.
Một số chủ trương, chính sách không phù hợp đã được dỡ bỏ, đáng chú ý là chủ trương ngăn chặn lưu thông hàng hóa ngoài nhà nước (ngăn sông cấm chợ), chủ trương phân phối lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng bằng tem phiếu hay hạn chế người Việt Nam ra nước ngoài và người nước ngoài vào Việt Nam,…
Đặc biệt, Đảng đã sớm nhận ra sự khắc nghiệt của việc bị cấm vận, không thể giao dịch, liên hệ, trao đổi với nước ngoài, không thể xuất khẩu hàng hóa, cũng không nhập khẩu được những hàng hóa cần thiết nên Việt Nam đã cố gắng tìm ra cách thức giảm căng thẳng với các nước, trước hết là các nước hàng xóm như Trung Quốc và các nước ASEAN.
Một cách tiếp cận ngoại giao khôn ngoan được áp dụng rất hiệu quả nên Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm 1991, đánh dấu một bước quan trọng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam sau nhiều năm căng thẳng. Quan hệ giữa hai quốc gia đã được cải thiện, giúp thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại và phát triển các mối quan hệ song phương lâu dài. Tiếp đến, Việt Nam được kết nạp làm thành viên chính thức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào ngày 28/7/1995. Trước đó, vào năm 1994 Hoa Kỳ đã chính thức dỡ bỏ cấm vận Việt Nam và ngày 11/7/1995, Tổng thống Bill Clinton đã công bố “bình thường hóa quan hệ” với Việt Nam, đánh dấu trang mới trong lịch sử quan hệ ngoại giao của hai nước.
Thành công trong gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đã giúp Việt Nam có thể giao dịch thương mại với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế. Ổn định chính trị, xã hội giúp Việt Nam nhận được nhiều nguồn vốn nước ngoài như vốn ODA, vốn FDI và ngày càng nhiều công ty nước ngoài đã, đang vào Việt Nam làm ăn.
Tính đúng đắn của việc thực hiện nền Kinh tế Thị trường định hướng XHCN được minh chứng bởi những thành tựu kinh tế nổi bật như: Hàng hóa ngày càng phong phú, cơ sở hạ tầng ngày một hoàn chỉnh, xuất hiện nhiều tỷ phú USD, nhiều công ty Việt Nam có khả năng vươn tầm làm ăn ở nước ngoài,…
Và, đời sống của nhân dân đã được nâng cao rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo (theo tiêu chí: - Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1,5 triệu đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên; - Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 02 triệu đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên đã giảm) chỉ còn 1,93% năm 2024 (theo công bố trong Quyết định Số: 217/QĐ-BLĐTBXH ngày 04/02/2025). Hầu hết các xã các vùng xa xôi, hải đảo đã có điện lưới hoặc điện mặt trời, điện gió, điện từ tổ máy phát ổn định.
Như vậy, rõ ràng việc đảm bảo, giữ vững An ninh Chính trị xã hội, An ninh lương thực, An ninh năng lượng là những yếu tố, thành tựu rất quan trọng để Việt Nam bước sang Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Mục tiêu tương lai xán lạn
Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đã được đưa vào trong các văn kiện của Đại hội XIV của Đảng đi cùng nhiều mục tiêu rất rõ ràng, cụ thể, đó là đến năm 2030 Việt Nam sẽ là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại và thu nhập trung bình cao, tầm nhìn đến 1945 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, một loạt chính sách của Đảng đã được ban hành trước Đại hội XIV và được thảo luận trong quá trình diễn ra Đại hội để thực hiện trong thời gian tới.
Điển hình là “Bộ tứ trụ cột” bao gồm 4 Nghị quyết: Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị thúc đẩy khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; Nghị quyết 59 về chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng; Nghị quyết 68 về phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân; Nghị quyết 66 về đổi mới toàn diện công tác xây dựng, thi hành pháp luật sẽ giúp đất nước cất cánh.
Đúng như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: "Đến thời điểm hiện nay có thể coi 4 Nghị quyết trên là "Bộ tứ trụ cột" để giúp chúng ta cất cánh. Vì vậy, tôi kêu gọi toàn hệ thống chính trị, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân hãy chung tay, đồng lòng, vượt qua mọi khó khăn, biến khát vọng thành hành động, biến tiềm năng thành sức mạnh thực tế, để cùng nhau đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển, thịnh vượng, hùng cường của dân tộc Việt Nam".
Những công trình mới đang được xây dựng như đường sắt cao tốc Bắc - Nam, điện hạt nhân,… sẽ giúp Việt Nam phát triển nhanh, đảm bảo nâng tầm vị thế đất nước.
Tuy nhiên, cả trước đổi mới và suốt 40 năm đổi mới Việt Nam cũng đã phải đối mặt với nhiều thách thức lớn cả khách quan lẫn chủ quan. Trước Đổi mới là nghèo đói, là di chứng chiến tranh tàn khốc, là thù trong giặc ngoài và cả sự yếu kém nhất định trong cơ chế phát triển đất nước, rồi nạn tham những, biểu hiện tự diễn biến, tự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao của Đảng đã làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự điều hành đất nước.
Và, đâu đó vẫn còn những thế lực thù địch cả trong và ngoài nước đang ngấm ngầm, công khai chống đối gây không ít khó khăn cho sự phát triển. Điều đó buộc các cấp lãnh đạo phải có giải pháp quyết liệt, kiên quyết hơn nữa để làm thất bại sự phá hoại của các phần tử chống đối này.
Nhân dân Việt Nam rất tin tưởng, hy vọng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Nhà nước và sẽ ủng hộ, cố gắng hết sức mình thực hiện các chính sách, nghị quyết do Đảng và Nhà nước ban hành nhằm thực hiện bằng được mục tiêu cao cả do Đại hội Đảng XIV đã đặt ra.

Đôi điều suy ngẫm
Chắc chắn, những thành tựu mà Đảng, Nhà nước đã lãnh đạo Nhân dân Việt Nam thu được trong thời gian qua đều làm nức lòng mọi người. Với tôi, một người già - thuộc tầm tuổi xưa nay hiếm, cũng vậy, nhưng vẫn muốn rút ra một vài điều cho riêng mình và nếu có ai đó đồng quan điểm thì sẽ rất vui.
Tôi sẽ không nói về thành tựu kinh tế nữa mà nói một chút về lòng dân, về quan điểm sống, về ranh giới đúng sai,… đối với một số vấn đề tại những thời điểm cụ thể.
Thật ra, dư luận quần chúng được các nhà thơ, nhà văn, nhà khoa học nghiên cứu, tổng quát hóa và trình bày dưới nhiều hình thức như thơ, truyện, tiểu thuyết, bản nhạc, bài báo. Trong đó có những bài, công trình được dư luận quan tâm và có những đánh giá trái chiều rất đáng chú ý.
Tôi nhớ những năm 1980, đêm trước của đổi mới với bao nhiêu trăn trở khi đất nước còn nhiều khó khăn thì ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nơi tôi công tác, đã có những vụ việc là tôi suy nghĩ đến tận bây giờ, chẳng hạn như vụ sinh viên Khoa Lịch sử phản ứng với bọn càn quấy đã tiến hành đập phá nhà của bọn chúng suốt một đêm (9/9/1981 thì phải), hay một cán bộ giảng dạy Khoa Địa lý - Địa chất gần như hóa điên vì cho rằng Đảng chưa thật sự nhìn thẳng vào một số sai lầm và có hành động gặp gỡ sinh viên nội trú Ký túc xá Mễ Trì, gặp lãnh đạo yêu cầu nhìn đúng sự thật về những sai lầm đã có. Đỉnh điểm là sự ra đời của bài thơ của một sinh viên đang học năm thứ hai Khoa Ngữ Văn, bài thơ “Mùa xuân nhớ Bác” của tác giả Phạm Thị Xuân Khải đăng trên Báo Tiền Phong (số 12 ngày 25.3.1986, số đặc biệt kỷ niệm 55 thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh). Bài thơ được tác giả kính tặng đồng chí Lê Đức Thọ, tác giả bài thơ “Lẽ sống” và đồng chí Hồ Thiện Ngôn, tác giả bài thơ “Đọc thơ anh”.
Bài thơ này đã làm dấy lên một làn sóng tranh luận rất gay gắt giữa 2 luồng suy nghĩ đối lập, một bên coi bài thơ là phản động, chống phá chế độ, bôi xấu chế độ, một bên khác thì coi những gì bài thơ viết là nhìn đúng sự thật, mang tính cảnh báo về sự tha hóa, biến chất của một số cán bộ trong giới lãnh đạo nhiều cấp lúc bấy giờ. Bây giờ đọc lại bài thơ, xem nhiều bình luận thì thấy cách đánh giá bài thơ theo hướng nêu sự thật và cảnh báo sự xuống cấp của một số lĩnh vực xã hội là đúng đắn. Những vụ án tham nhũng lớn, những vị cán bộ thoái hóa bị vào tù đã minh chứng cho những gì nêu trong bài thơ.
Theo tôi, vấn đề cảnh báo nạn suy thoái đạo đức mà sau này gọi là nạn tự chuyển hóa, tự diễn biến, nạn tham nhũng đã được tổng quát hóa và trình bày bằng những câu thơ rất hay như:
“Có mắt giả mù, có tai giả điếc
Thích nghe nịnh hót, ghét bỏ lời trung
Trấn áp đấu tranh, dập vùi khốn khổ
Cùng chí hướng sao bầy mưu chia rẽ?
Tham quyền cố vị
Sợ trẻ hơn già”
Ngoài ra, bài thơ còn nêu rõ một thực trạng người trẻ, người có tài chưa được trọng dụng dẫn đến hẫng hụt trong giới trẻ:
“Lẽ nào tuổi trẻ hôm nay thua thiệt
Có học hành, lại phải sống cầu an
Phải thu mình, xin hai chữ “bình yên”
Bởi lẽ đấu tranh-tránh đâu cho được?
Đồng chí không bằng đồng tiền
Bằng lòng vẫn hơn bằng cấp
Có ai thấu chăng
Và ai phải sửa?”
Quả thật, ngày ấy (cách đây hơn 40 năm) mà có được cái nhìn chân thực và dám đưa chúng vào thơ để dễ đến với mọi người thì tác giả rất đáng ngưỡng mộ.
Liên hệ với kết quả bầu các Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV chúng ta vui mừng thấy những cán bộ trẻ như bà Tôn Ngọc Hạnh, 46 tuổi, là ủy viên chính thức trẻ nhất; ông Nguyễn Minh Triết, 38 tuổi, Bí thư Trung ương Đoàn, là dự khuyết trẻ nhất Ban chấp hành Trung ương khóa XIV. Đặc biệt Ủy viên Bộ Chính trị trẻ nhất khóa này lúc trúng cử chưa đến 50 tuổi, đó là ông Nguyễn Thanh Nghị. Đây là biểu hiện đáng mừng và hy vọng họ xứng đáng với cương vị mới, trọng trách mới, đáp ứng kỳ vọng của Nhân dân.

Nếu như bài thơ Mùa xuân nhớ Bác là một hiện tượng văn học phản ánh những gì xảy ra trước, trong đổi mới thì trước Đại hội Đảng lần thưa XIV được coi là thời điểm bắt đầu Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc cũng có một sự kiện văn học - xã hội khác xuất hiện như một vấn đề rất cần giải quyết về lâu về dài, đó là nhận thức về cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam đã kết thúc năm 1975. Sự kiện này gắn liền với tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của tác giả Bảo Ninh, một tác giả cũng đã từng học khoa Sinh học của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (trường mà Phạm Thị Xuân Khải đã học). Quả thật, tôi chưa đọc một trang nào của cuốn tiểu thuyết này nhưng được đọc nhiều bài viết đăng trên mạng và cả những bài viết trên facebook được nhiều người gửi cho. Vì vậy, tôi không có thể đưa ra bàn luận sâu sắc mà chỉ nêu cảm nghĩ của mình xung quanh các chủ đề liên quan đến tác phẩm và tác giả đã được đăng tải.
Về giá trị văn học của tác phẩm, nếu chỉ nhìn vào việc thẩm định của Ban biên tập và cho xuất bản lần đầu (1990) với tên khác - Thân phận của tình yêu của Nhà xuất bản Hội Nhà văn cũng như những đánh giá Hội Nhà văn Việt Nam khi xét vinh danh, trao giải cho tác phẩm này năm 1991 thì có thể thấy tác phẩm được đánh giá cao về phương diện, giá trị văn học.
Về tác động, ý nghĩa xã hội của tác phẩm cũng đã được xem xét khi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) thẩm định, quyết định và công bố bình chọn 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật biểu diễn Việt Nam tiêu biểu, xuất sắc sau ngày đất nước thống nhất (1975-2025) trong đó có tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của tác giả Bảo Ninh. Và, năm 2023, trích đoạn tác phẩm này cũng đã được chọn đưa vào sách giáo khoa môn Ngữ văn lớp 12 trung học phổ thông tại Việt Nam. Tôi không dám bình luận về những quyết định này nhưng khi đọc một số phản biện và sau khi tiểu thuyết này bị đưa ra khỏi danh sách 50 tác phẩm văn học nghệ thuật tiêu biểu, xuất sắc sau ngày đất nước thống nhất theo Quyết định số 4313/QĐ-BVHTTDL ngày 13/11/2025 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và nhiều ý kiến bỏ trích đoạn tác phẩm trong sách giáo khoa thì tôi rất muốn được các cơ quan có thẩm quyền mà ở đây là Bộ VHTTDL và Bộ Giáo dục Đào tạo có ý kiến chính thống để định hướng dư luận.
Riêng với ý kiến cá nhân, tôi nhận thức được rằng chiến tranh là điều không ai muốn và nó đã gây bao nhiêu thảm họa cho các dân tộc và rất rất nhiều cá nhân của cả 2 bên chiến tuyến. Tuy nhiên, phải luôn làm rõ những điều cơ bản, đó là ai gây ra chiến tranh và mục đích chiến tranh là gì, phục vụ ai. Thật ra, nhiều khi rất khó nhìn nhận minh bạch một số cuộc chiến tranh vì nó bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa, lại được nhìn nhận với nhiều góc độ khác nhau. Chẳng hạn, cuộc chiến giúp Campuchia giải phóng dân tộc khỏi bọn diệt chủng Pol Pot đã bị một số nước một số tổ chức quốc tế coi là chiến tranh xâm lược của Việt Nam.
Vì sao vậy? Vì sao một hành động nghĩa tình như vậy, hành động mà đất nước ta phải hy sinh một lực lượng không nhỏ về người và của lại bị gán cho là xâm lược? Họ nói có lý do của họ và đôi khi họ còn viện dẫn cả luật pháp quốc tế nữa nên có lẽ Việt Nam chúng ta phải luôn luôn nhắc lại, luôn luôn khẳng định tính chính nghĩa của mình trong hành động này. Phải nhắc lại sự tàn sát dân thường dã man ở vùng biên giới của lính Pol Pot ở Tây Ninh, Kiên Giang, An Giang (cũ) buộc quân đội và dân quân vùng biên giới Tây Nam phải nổ súng chống lại và việc vượt biên truy kích là điều hiển nhiên. Và, khi được hỏi tại Việt Nam không tố cáo sự việc này ra Liên Hợp Quốc mà lại tấn công Campuchia, một nhà ngoại giao Việt Nam đã khôn ngoan trả lời là có tố cáo cũng không có ích lợi gì vì trong 40 năm qua, chúng tôi đã bị 4 trong 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc xâm lược.
Điều đó cho thấy, để bảo vệ tính chính nghĩa của một cuộc chiến tranh không phải dễ, đặc biệt là khi chiến tranh đã lùi lại quá lâu theo thời gian. Nỗi buồn được nêu trong tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh có thể đã xảy ra với ai đó, tại vùng nào đó nhưng do kẻ nào gây nên thì phải nói rõ, nếu chỉ “đổ tội” chung chung cho chiến tranh thì rất gay go. Ví dụ, đứng trước sự đổ nát do đợt bom B52 hủy diệt cả khu phố Khâm Thiên (năm 1972) nhà thơ Phạm Tiến Duật đã viết bài thơ “Viết về số 0 - Vòng trắng” với những câu thơ có nhiều ẩn ý, dễ suy diễn nên nhà thơ đã bị phê phán gay gắt. Một suy diễn liên quan đến khổ thơ:
“Có mất mát nào lớn bằng cái chết
Khăn tang, vòng tròn như một số không
Nhưng bạn ơi, ở bên trong vòng trắng
Là cái đầu bốc lửa ở bên trong”
Với cái đầu bốc lửa, chắc là lửa căm thù, nhưng căm thù ai chưa được chỉ rõ, căm thù giặc Mỹ hay căm thù cả lý do Mỹ dùng B52 ném bom như họ rêu rao – Mỹ ném bom là do Phái đoàn đàm phán Paris của Bắc Việt Nam không chịu chỉnh sửa một số điều (do Mỹ áp đặt)? Một bài thơ nhỏ chỉ nêu tâm trạng của nhà thơ còn bị hiểu sai, còn bị suy diễn thì cả cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh nếu không nói rõ chiến tranh này do ai gây nên thì cần phải xem xét lại. Tôi đọc được đâu đó câu phát biểu của tác giả Bảo Ninh coi chiến tranh Việt Nam (với Mỹ) là “nội chiến” thì rõ ràng tác giả đã cố tình đánh tráo khái niệm hướng người đọc hiểu sai về ý nghĩa của cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc: Cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược để cứu nước, giải phóng dân tộc.
Có lẽ đây mới là điểm cốt lõi, cần làm rõ để có ứng xử với tác phẩm này, để các thế hệ mai sau không bị hiểu sai, còn biết ơn những người chiến sĩ chân chính (cha ông họ) trong cuộc kháng chiến này. Cha, Ông họ đã ra đi để đánh Mỹ cứu nước, họ đã hy sinh, để lại bao nỗi đau, bao nỗi buồn, bao mất mát cho người thân, đặc biệt là cho các bà mẹ, bà vợ và các người anh em, con, cháu họ nhưng họ chịu đựng được vì họ hiểu sự hy sinh này là vì sự trường tồn và phồn vinh của đất nước…
Như vậy, theo tôi, trong suốt quá trình thực hiện các hoạt động phát triển trong Kỷ nguyên vươn mình phải luôn để tâm xem xét diễn biến tâm lý, tình cảm, suy nghĩ của người dân về quá trình cách mạng do Đảng lãnh đạo với hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ xâm lược. Nếu không định hướng đúng thì người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ sẽ hiểu sai, dễ bị các thế lực thù địch lôi kéo để chống phá công cuộc phát triển của dân tộc. Diễn biến của các cuộc cách mạng mầu ở nhiều nước cùng bài học kinh nghiệm về nguyên nhân sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu vẫn còn nguyên giá trị, khi mà nhân dân mất lòng tin đối với những gì tốt đẹp mà cha ông họ đổ xương máu để giành được.
Với những phân tích về hai sự kiện văn học xảy ra chúng tôi chỉ muốn bạn đọc cùng suy ngẫm trong dịp Tết Bính Ngọ này và mong nhận được góp ý, đánh giá.
Hoàng Xuân Cơ
Hội Kinh tế môi trường Việt Nam














