Thứ năm, 02/04/2026 21:28 (GMT+7)
Thứ tư, 24/12/2025 10:51 (GMT+7)

Lối đi nào cho chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu?

Theo dõi KTMT trên

Cộng đồng doanh nghiệp trong nước đang đối mặt với hàng loạt thách thức từ tiêu chuẩn khắt khe của thị trường lớn về môi trường, phát thải, trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững.

Trong bối cảnh hiện nay, kinh tế và thương mại toàn cầu đang trải qua những biến động sâu sắc, phức tạp và mang tính cấu trúc. Cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn ngày càng gia tăng, xung đột địa chính trị kéo dài tại nhiều khu vực trọng điểm, cùng xu hướng bảo hộ thương mại, phân mảnh chuỗi cung ứng và việc siết chặt các tiêu chuẩn về môi trường, lao động, truy xuất nguồn gốc… đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất – kinh doanh và dòng chảy hàng hóa trên phạm vi toàn cầu.

Lối đi nào cho chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu? - Ảnh 1
Quang cảnh Hội thảo “Định hướng và giải pháp xây dựng chuỗi cung ứng an toàn, bền vững cho doanh nghiệp trong bối cảnh địa chính trị mới”.

Là nền kinh tế có độ mở cao, với kim ngạch xuất nhập khẩu gấp nhiều lần GDP, Việt Nam chịu ảnh hưởng rõ nét từ những biến động của bối cảnh địa chính trị và thương mại mới. Cộng đồng doanh nghiệp trong nước đang đối mặt với hàng loạt thách thức, từ sự phụ thuộc vào một số thị trường và nguồn cung nguyên liệu nhất định, nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ, đến áp lực ngày càng lớn trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường lớn về môi trường, phát thải, trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững.

Ở chiều ngược lại, quá trình tái cấu trúc và đa dạng hóa chuỗi cung ứng toàn cầu cũng đang mở ra những cơ hội đáng kể cho Việt Nam. Nhiều tập đoàn và nhà nhập khẩu quốc tế có xu hướng tìm kiếm các đối tác mới, các điểm đến sản xuất an toàn, ổn định, có năng lực đáp ứng tiêu chuẩn cao và cam kết hợp tác lâu dài. Đây được xem là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam không chỉ mở rộng thị trường xuất khẩu, mà còn từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, qua đó nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng và vị thế trong chuỗi cung ứng.

Lối đi nào cho chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu? - Ảnh 2
Ông Bùi Quang Hưng - Phó Cục Trưởng Cục Xúc tiến thương mại phát biểu tại chương trình.

Phát biểu khai mạc Hội thảo “Định hướng và giải pháp xây dựng chuỗi cung ứng an toàn, bền vững cho doanh nghiệp trong bối cảnh địa chính trị mới” do Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) tổ chức chiều 23/12, ông Bùi Quang Hưng - Phó Cục Trưởng Cục Xúc tiến thương mại cho biết, xúc tiến thương mại được xác định giữ vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm thị trường, đối tác, mà còn là công cụ chiến lược góp phần định hình và củng cố các chuỗi cung ứng an toàn, bền vững. Hoạt động xúc tiến thương mại hiện đại cần gắn chặt với việc cung cấp thông tin thị trường kịp thời, cảnh báo sớm các rủi ro, hỗ trợ doanh nghiệp nắm bắt đầy đủ yêu cầu về tiêu chuẩn, xuất xứ và phát triển bền vững; đồng thời thúc đẩy kết nối giữa doanh nghiệp trong nước với các nhà mua hàng, nhà phân phối và chuỗi cung ứng quốc tế uy tín.

Với vai trò là cơ quan đầu mối về xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại xác định nhiệm vụ trọng tâm là đồng hành cùng doanh nghiệp thích ứng với bối cảnh mới. Thông qua việc tổ chức các chương trình kết nối giao thương theo chuỗi, theo ngành hàng và thị trường trọng điểm; hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các hội chợ, triển lãm chuyên ngành gắn với chuỗi cung ứng; đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong xúc tiến thương mại; đồng thời phối hợp với các đối tác quốc tế, hiệp hội ngành hàng nhằm chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và các thực hành tốt về xây dựng chuỗi cung ứng bền vững, Cục Xúc tiến thương mại hướng tới mục tiêu nâng cao năng lực chống chịu và khả năng cạnh tranh dài hạn cho doanh nghiệp Việt Nam.

Lối đi nào cho chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu? - Ảnh 3
PGS.TS Bùi Quang Tuấn – nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới.

Phát biểu về tác động của địa chính trị mới đến chuỗi cung ứng toàn cầu và những khuyến nghị đối với Việt Nam, PGS.TS Bùi Quang Tuấn – nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho rằng, bản chất của địa chính trị hiện nay là “sự cạnh tranh quyền lực mang tính chiến lược, dài hạn giữa các quốc gia, các liên minh và các tập đoàn xuyên quốc gia”, chứ không chỉ dừng lại ở các xung đột quân sự hay tranh chấp lãnh thổ. 

“Không gian địa chính trị mới đã mở rộng sang các lĩnh vực kinh tế, công nghệ, dữ liệu, năng lượng, khí hậu và tiêu chuẩn, nơi “vị trí địa lý, tuyến giao thông chiến lược, tài nguyên và khả năng kiểm soát chuỗi cung ứng trở thành một dạng quyền lực.” - ông cho biết.

PGS.TS Bùi Quang Tuấn phân tích, đến năm 2025, thế giới tiếp tục đối mặt với hàng loạt điểm nóng địa chính trị như xung đột Nga – Ukraine, vòng xoáy bất ổn tại Trung Đông, căng thẳng Israel – Iran, các nguy cơ tiềm ẩn tại Biển Đỏ, eo biển Đài Loan, bán đảo Triều Tiên hay cạnh tranh Ấn Độ – Pakistan. Đáng chú ý, cạnh tranh Mỹ – Trung không còn thuần túy là thương mại, mà đã chuyển mạnh sang lĩnh vực công nghệ lõi như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, pin, vật liệu mới, cùng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu, đầu tư và dữ liệu. 

“Thương mại tự do đang dần chuyển sang thương mại có điều kiện, thuế quan trở thành công cụ trừng phạt và đe dọa mới, làm gia tăng phân mảnh chuỗi cung ứng toàn cầu”, ông Tuấn nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, sự trỗi dậy của các liên minh mới như BRICS mở rộng, các hiệp định kinh tế số, hay các liên minh chuyển đổi năng lượng (JETP) đang tái định hình dòng đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu theo hướng “friend-shoring”, “near-shoring”, “China+1”. Đặc biệt, Liên minh châu Âu (EU) nổi lên như một “cực quyền lực tiêu chuẩn” thông qua các quy định về carbon, ESG, truy xuất dữ liệu. Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) và các yêu cầu báo cáo bền vững đang buộc doanh nghiệp và quốc gia ngoài EU, trong đó có Việt Nam, phải tái cấu trúc toàn bộ chuỗi sản xuất nếu muốn tiếp cận thị trường. 

“Chuỗi cung ứng toàn cầu không còn ‘thuần túy toàn cầu’ mà đang bị phân mảnh theo khối và theo tiêu chuẩn”, PGS.TS Bùi Quang Tuấn nhận định.

Trong bức tranh nhiều thách thức đó, Việt Nam vẫn được đánh giá là một điểm sáng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Dự kiến đến cuối năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt khoảng 920 tỷ USD, xuất khẩu trên 470 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 15 cường quốc thương mại hàng đầu thế giới và đứng thứ hai trong ASEAN. Dòng vốn FDI tiếp tục tăng tích cực, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực chế biến, chế tạo, phản ánh xu hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa. 

Tuy nhiên, theo PGS.TS Bùi Quang Tuấn, những “điểm nghẽn cấu trúc” vẫn rất rõ nét: chi phí logistics cao, phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu, tỷ lệ nội địa hóa thấp, giá trị gia tăng trong xuất khẩu chỉ đạt khoảng 18–20% ở các ngành công nghiệp chủ lực. Đáng lo ngại, chỉ khoảng 2,5% doanh nghiệp Việt Nam có khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và chưa đến 0,3% làm chủ được công nghệ lõi.

Từ thực tiễn đó, PGS.TS Bùi Quang Tuấn khuyến nghị Việt Nam cần chuyển mạnh từ “tham gia” sang “làm chủ” chuỗi giá trị thông qua nâng cao nội lực doanh nghiệp, đầu tư cho công nghệ, đổi mới sáng tạo và hạ tầng số; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI và giữa các doanh nghiệp nội địa với nhau. Cùng với đó là hoàn thiện thể chế theo hướng đột phá, xây dựng các cơ chế sandbox, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong kỷ nguyên AI, giảm chi phí logistics, đa dạng hóa thị trường và chuỗi cung ứng. Đồng thời, việc triển khai hiệu quả các nghị quyết mới về phát triển kinh tế tư nhân và khoa học – công nghệ sẽ là chìa khóa để Việt Nam nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc sâu sắc.

Lối đi nào cho chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu? - Ảnh 4
Bà Đặng Hồng Nhung, Phòng tổng hợp chính sách, Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương.

Trao đổi về các giải pháp nâng cao năng lực xuất nhập khẩu của Việt Nam trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu biến động mạnh, bà Đặng Hồng Nhung – đại diện Phòng Tổng hợp chính sách, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, những cú sốc liên tiếp từ thương chiến Mỹ – Trung, đại dịch Covid-19 và xu hướng bảo hộ gia tăng đang buộc các quốc gia và doanh nghiệp phải nhìn nhận lại cách thức tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. “Các nước nhận ra rằng không thể quá phụ thuộc vào một thị trường hay một nguồn cung duy nhất, từ đó thúc đẩy làn sóng tái cơ cấu và dịch chuyển chuỗi sản xuất”, bà Nhung nhận định.

Theo bà Đặng Hồng Nhung, xu hướng dịch chuyển công xưởng ra khỏi Trung Quốc không chỉ đến từ các nhà sản xuất nước ngoài mà ngay cả doanh nghiệp Trung Quốc cũng đang tích cực thiết lập cơ sở sản xuất tại các quốc gia khác. Điều này thúc đẩy quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng đa dạng hóa nguồn cung, mở rộng mạng lưới nhà cung cấp nhằm phân tán rủi ro. Cùng với đó, khu vực hóa đang dần thay thế toàn cầu hóa khi dịch bệnh, thiên tai và xung đột vũ trang đẩy nhanh xu hướng “phi toàn cầu hóa”, khiến thương mại quốc tế bị chia cắt bởi nhiều tiêu chuẩn và cấp độ khác nhau.

Trước tình hình đó, chủ nghĩa bảo hộ thương mại gia tăng, với việc nhiều quốc gia áp dụng các rào cản kỹ thuật, thuế quan và biện pháp phòng vệ mới nhằm hạn chế hàng hóa nhập khẩu. Bà Nhung cho rằng, việc ông Donald Trump trở lại Nhà Trắng có thể tiếp tục tạo ra những tác động đáng kể đến chính sách thương mại của Mỹ, làm gia tăng nguy cơ các biện pháp bảo hộ và điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu. Thực tế cho thấy, đến hết tháng 6/2023, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã phải đối mặt với 231 vụ việc phòng vệ thương mại do các nước khởi xướng, tập trung chủ yếu vào các ngành kim loại và sản phẩm kim loại, cao su – chất dẻo, hóa chất, vật liệu xây dựng và gỗ.

Dù vậy, bà Đặng Hồng Nhung nhấn mạnh rằng, biến động địa chính trị cũng mở ra những cơ hội mới cho Việt Nam nếu biết tận dụng. “Thách thức hay thời cơ phụ thuộc vào cách chúng ta chuẩn bị và thích ứng”, bà nói. Theo số liệu của Cục Xuất nhập khẩu, số thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD của Việt Nam đã tăng liên tục, từ 27 thị trường năm 2013 lên 31 thị trường năm 2018, 34 thị trường năm 2022 và đạt 35 thị trường trong 11 tháng năm 2025. Cơ cấu nhập khẩu cũng cho thấy xu hướng tích cực khi nhóm hàng cần nhập khẩu chiếm tới 89,1% tổng kim ngạch, phản ánh vai trò đầu vào cho sản xuất, trong khi nhóm hàng cần kiểm soát chỉ chiếm 5,3%.

Trước yêu cầu mới của thị trường quốc tế, bà Đặng Hồng Nhung cho rằng, Việt Nam cần chuyển từ “xanh hóa sản xuất” sang “xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng”, tiến tới mục tiêu trung hòa phát thải (net zero). Đồng thời, cần phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, nâng cao giá trị nội địa thông qua chủ động nguyên liệu, đầu tư cho nghiên cứu – phát triển (R&D), cũng như đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA) mới để mở rộng không gian thị trường. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh thương mại điện tử xuyên biên giới, đổi mới công tác xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu nông sản gắn với truy xuất nguồn gốc, ứng dụng tiêu chuẩn xanh và công nghệ số được xem là những hướng đi then chốt.

“Phát huy tối đa lợi thế địa kinh tế, tối ưu hóa chi phí và hỗ trợ doanh nghiệp ‘go global’ một cách bài bản sẽ giúp xuất nhập khẩu Việt Nam nâng cao sức chống chịu trước biến động địa chính trị, đồng thời tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong dài hạn”, bà Đặng Hồng Nhung nhấn mạnh.

Lối đi nào cho chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu? - Ảnh 5
Các đại biểu, chuyên gia tham dự Hội thảo.

Hà Chi

Bạn đang đọc bài viết Lối đi nào cho chuỗi cung ứng bền vững trước biến động toàn cầu?. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0937 68 8419 Hoặc email: [email protected]

Cùng chuyên mục

Tin mới