Giá lúa gạo hôm nay 4.3: Gạo Đài Thơm 8 bật tăng
Giá lúa gạo hôm nay 4.3 giao dịch chậm do nhiều kho lớn ngưng mua, mặt bằng giá trong nước nhìn chung ổn định, riêng Đài Thơm 8 tăng 250 đồng/kg. Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam giữ vững, trong khi Ấn Độ đối mặt rủi ro từ căng thẳng Trung Đông

Giá lúa gạo hôm nay 4.3
Giá lúa gạo hôm nay 4.3 ghi nhận nhiều kho lớn tiếp tục đứng ngoài thị trường, không thu mua, khiến giao dịch gạo diễn ra chậm và giá nhìn chung ổn định. Tại An Giang, hoạt động mua bán trầm lắng, đa số kho lớn ngưng mua, mặt bằng giá ít biến động.
Ở Lấp Vò, Sa Đéc (Đồng Tháp), lượng hàng về ít, giá các loại gạo giữ ổn định. Khu vực An Cư (Đồng Tháp) giao dịch yếu, thị trường kém sôi động, giá không thay đổi đáng kể.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 tăng mạnh 250 đồng/kg, lên 9.350 – 9.600 đồng/kg. Các loại khác tương đối ổn định: CL 555 ở mức 7.950 – 8.050 đồng/kg; IR 50404 từ 8.500 – 8.600 đồng/kg; OM 380 dao động 7.600 – 7.700 đồng/kg; IR 504 ở 8.000 – 8.100 đồng/kg; OM 18 quanh 8.900 – 9.100 đồng/kg; OM 5451 từ 8.750 – 8.900 đồng/kg; Sóc thơm 7.500 – 7.600 đồng/kg.
Tại các chợ dân sinh, giá gạo không biến động so với hôm qua: gạo thường 13.000 – 14.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 20.000 – 22.000 đồng/kg; Hương Lài 22.000 đồng/kg; Nàng Nhen cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg.
Phân khúc nếp đi ngang: nếp IR 4625 tươi 7.300 – 7.500 đồng/kg; nếp khô 9.500 – 9.700 đồng/kg; nếp 3 tháng khô 9.600 – 9.700 đồng/kg.
Mặt hàng phụ phẩm ghi nhận tăng nhẹ. Giá cám tăng 150 đồng/kg, lên 7.950 – 8.150 đồng/kg; trong khi tấm IR 504 giữ ở mức 7.500 – 7.600 đồng/kg.
Với mặt hàng lúa, giao dịch tại nhiều địa phương vẫn chậm, nguồn chào bán rải rác, giá duy trì ổn định. Tại An Giang, lúa tươi IR 50404 ở mức 5.400 – 5.500 đồng/kg; OM 5451 từ 5.800 – 6.000 đồng/kg; OM 18 và Đài Thơm 8 dao động 6.500 – 6.700 đồng/kg; OM 4218 ở 6.200 – 6.400 đồng/kg; Nàng Hoa 6.000 – 6.200 đồng/kg; Nàng Nhen khô 20.000 đồng/kg; OM 34 (tươi) ở mức 5.200 – 5.400 đồng/kg.
Giá gạo xuất khẩu hôm nay 4.3
Trên thị trường xuất khẩu, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine của Việt Nam đang được chào bán ở mức 431 – 435 USD/tấn; gạo trắng 5% tấm đạt 359 – 363 USD/tấn; còn gạo thơm 5% tấm dao động 400 – 415 USD/tấn.
So với Việt Nam, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan cao hơn, ở mức 381 – 385 USD/tấn – hiện là mức cao nhất khu vực do đồng Baht mạnh lên. Tại Ấn Độ, gạo trắng 5% tấm và gạo đồ 5% tấm cùng được chào giá 351 – 355 USD/tấn; trong khi Pakistan giao dịch gạo trắng 5% tấm quanh 362 – 366 USD/tấn.
Xuất khẩu gạo của Ấn Độ đang đối mặt nhiều rủi ro khi căng thẳng Trung Đông leo thang, đe dọa các thị trường chủ lực. Theo The Times of India, 5 thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Ấn Độ đều thuộc khu vực Trung Đông – nơi vừa hứng chịu các cuộc không kích của Mỹ và Israel nhằm vào Iran, làm dấy lên lo ngại xung đột lan rộng.
Tâm điểm là eo biển Hormuz – tuyến hàng hải chiến lược chiếm khoảng 20 – 25% thương mại dầu thô toàn cầu và là cửa ngõ trung chuyển nhiều mặt hàng thiết yếu. Dù chưa có thông báo đóng cửa, nguy cơ gián đoạn vận tải ngày càng lớn khi tàu hàng và tàu dầu đi qua khu vực này đối mặt rủi ro an ninh gia tăng.
Liên đoàn Các nhà Xuất khẩu Gạo Ấn Độ (IREF) đã khuyến cáo các thành viên hạn chế ký hợp đồng mới theo điều kiện CIF với thị trường vùng Vịnh, chuyển sang FOB để giảm thiểu rủi ro chi phí vận tải và bảo hiểm. Hiện Trung Đông và châu Phi chiếm gần một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của Ấn Độ; riêng từ tháng 4 – 12/2025, nước này xuất 3,9 triệu tấn sang Trung Đông và 7,16 triệu tấn sang châu Phi.
Đáng chú ý, các thị trường basmati trọng điểm như Ả Rập Xê Út, Iran, Iraq, UAE và Yemen chiếm khoảng một nửa lượng basmati xuất khẩu, khiến phân khúc này đặc biệt nhạy cảm trước biến động địa chính trị. IREF cảnh báo giá dầu tăng có thể kéo chi phí vận tải, bảo hiểm leo thang, trong khi giá bán buôn basmati đã tăng 10 – 15% trong tháng qua.
Hà Chi














