Biến đổi khí hậu sẽ là một trong các tác nhân làm giảm tăng trưởng của Việt Nam
Khi nhiệt độ tăng 1-1,5 độ C có thể gây tổn thất lần lượt khoảng 1,8% và 4,5% GDP của Việt Nam, thiệt hại kinh tế khoảng 4,3 tỷ USD trong 10 năm tới.
Áp lực kinh tế không hề nhỏ

Theo báo cáo Tăng cường sự sẵn sàng của Việt Nam trong giải quyết tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu do các cơ quan trong nước phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) công bố ngày 24/3, biến đổi khí hậu sẽ là một trong các tác nhân làm giảm tăng trưởng của Việt Nam.
Nếu không có các giải pháp thích ứng hiệu quả, khi nhiệt độ tăng từ 1-1,5 độ C có thể gây tổn thất lần lượt khoảng 1,8% GDP và 4,5% GDP, thiệt hại kinh tế khoảng 4,3 tỷ USD trong 10 năm tới.
Trong bối cảnh quy hoạch tổng thể quốc gia đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và thu nhập cao vào năm 2045, biến đổi khí hậu có thể làm suy giảm tiềm năng hiện thực hóa các mục tiêu này nếu không có sự tích hợp phù hợp về vấn đề BĐKH trong chính sách và đầu tư phát triển.
Để đối phó với các rủi ro trong tương lai, các chiến lược và kế hoạch quốc gia đã định lượng quy mô thách thức và chi phí thích ứng cần thiết. Theo Đề án được Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình Chính phủ, tổng kinh phí đầu tư cho các giải pháp công trình đến năm 2035 là rất lớn, bao gồm khoảng 113.393 tỷ đồng cho các công trình chống hạn, kiểm soát mặn và 70.000 tỷ đồng cho các công trình phòng, chống sạt lở. Qua những con số này, có thể thấy rằng chi phí để chủ động ngăn chặn và giảm thiểu thiệt hại trong tương lai cũng tạo ra một áp lực kinh tế không hề nhỏ đối với quốc gia.
Ngoài ra, theo báo cáo của WB 2022 87, tác động tích lũy của biến đổi khí hậu có thể làm thiệt hại từ 12 -14,5% GDP vào năm 2050, tương đương với tổng chi phí tích lũy từ 400 đến 523 tỷ USD. Nhiệt độ và lượng mưa tăng cao, biến động mạnh hơn, cùng với mực nước biển dâng sẽ gây thiệt hại về tài sản, vật chất và sản xuất.
Chi phí thiệt hại này được dự báo sẽ tăng khoảng 6% GDP năm 2022 lên 9,8% GDP theo kịch bản phát thải thấp (RCP2.6), và có thể lên tới 12,3% GDP theo kịch bản phát thải trung bình (RCP4.5) vào năm 2050. Đồng thời, chi phí do thảm họa khí hậu cũng được dự báo tăng trung bình khoảng 2% mỗi năm.

Tổn thất và thiệt hại về kinh tế
Lũ lụt đô thị
Rủi ro lũ lụt ở khu vực đô thị dự kiến sẽ tăng lên 7% theo các kịch bản BĐKH cao, với thiệt hại về nhà ở dự kiến ở Đồng bằng sông Cửu Long lên tới 2,1 tỷ USD vào năm 2050, tăng 11% so với mức hiện tại. Ngoài ra, nghiên cứu của WB cũng chỉ ra rằng khoảng 33% dân số cả nước hiện đang sống tại các khu vực có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi lũ lụt với tần suất trung bình 1 lần trong 25 năm; con số này sẽ tăng lên 38% theo kịch bản RCP2.6 và 46% theo kịch bản RCP8.5 vào năm 2100.
Ngoài nguyên nhân thiệt hại do BĐKH, quá trình phát triển đô thị nhanh, chưa đồng bộ với hệ thống thoát nước và chưa tích hợp bản đồ rủi ro ngập lụt vào quy hoạch xây dựng cũng là nguyên nhân gia tăng thiệt hại. Do vậy, việc quy hoạch mạng lưới đô thị quốc gia cần đồng thời đi kèm với quy hoạch thích ứng khí hậu.
Thiệt hại về cơ sở hạ tầng
Lượng mưa tăng gây ra nguy cơ sạt lở đất và lũ lụt cho khoảng 20% mạng lưới đường bộ quốc gia và mạng lưới đường sắt. Nếu mực nước biển dâng cao 100 cm có thể ảnh hưởng đến 4% hệ thống đường sắt, hơn 9% hệ thống đường bộ quốc gia và khoảng 12% hệ thống đường bộ tỉnh. Sự gián đoạn trong các tuyến đường sắt có thể dẫn đến thiệt hại kinh tế từ 2,3-2,6 triệu USD mỗi ngày.
Các kịch bản phát thải cao thấy tình trạng hư hỏng đường sá do lũ lụt trên sông sẽ tăng ít nhất 40% vào năm 2030. Bên cạnh đó, cảng biển lớn nhất cả nước tại thành phố Hồ Chí Minh được dự đoán sẽ phải đối mặt với tình trạng ngập lụt thường xuyên hơn gấp 5 lần trong tương lai, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chuỗi cung ứng và vận tải hàng hóa.
Trong bối cảnh quy hoạch phát triển hạ tầng giao thông vận tải quốc gia giai đoạn 2021-2030, cần ưu tiên đầu tư các công trình có tính chống chịu cao với khí hậu và rủi ro thiên tai.
Về nông nghiệp
Mực nước biển dâng cao có thể khiến ngành nông nghiệp thiệt hại 43 tỷ USD. Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng là những khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất. Khoảng 1,1 triệu tấn thủy sản (trị giá 935 triệu USD) có nguy cơ bị mất do lũ lụt hàng năm. Theo WB 202290, tổn thất nông nghiệp do biến đổi khí hậu ở Việt Nam dự kiến sẽ chiếm từ 5,6-6,2% tổng sản lượng vào năm 2030 và tăng lên 7,6-10,6% vào năm 2050, tùy theo kịch bản phát thải (RCP 2.6, 4.5 và 8.5). Điều này đồng nghĩa với việc tác động của biến đổi khí hậu không chỉ làm suy giảm sản lượng hiện tại mà còn làm chậm lại đáng kể tốc độ tăng trưởng năng suất nông nghiệp trong tương lai.
Môi trường sống tự nhiên và đa dạng sinh học
Nếu mực nước biển dâng cao từ 75 đến 100 cm có thể tác động nghiêm trọng đến 78 trong số 286 môi trường sống tự nhiên quan trọng (27%), 46 khu bảo tồn (33%), 9 khu vực đa dạng sinh học có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế (23%) và 23 khu vực đa dạng sinh học khác. Do vậy, việc quy hoạch không gian biển quốc gia, lâm nghiệp và bảo tồn cần gắn với đánh giá tác động khí hậu để đảm bảo duy trì tính bền vững của hệ sinh thái.
Khu vực ven biển
Các khu công nghiệp ven biển và khoảng 35% công trình xây dựng ở khu vực ven biển sẽ bị xói mòn. Ngoài ra, 42% khách sạn ven biển nằm gần khu vực sạt lở đất và 2/3 hệ thống đê (trên 2.659 km) có thể không đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh định hướng phát triển kinh tế biển toàn diện, bền vững đến 2030.
Ngoài ra, theo UNDP, các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lũ lụt, và hạn hán ngày càng gia tăng, gây ra thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng và sức khỏe của người dân, xói mòn đất và gây hư hại hoặc phá hủy các di sản văn hóa vật thể như đền chùa, di tích lịch sử và các công trình kiến trúc cổ.

Việt Nam mới bù đắp được khoảng 30% thiệt hại do thiên tai
UNDP cho biết, nguồn lực tài chính cho khắc phục hậu quả thiên tai tại Việt Nam hiện phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách nhà nước và hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Tuy nhiên, các nguồn lực này mới đáp ứng được khoảng 30% tổng thiệt hại thực tế.
Báo cáo chỉ rõ "khoảng trống tài chính cho tổn thất và thiệt hại vẫn ở mức rất lớn", khi tới 70% thiệt hại chưa được bù đắp đầy đủ. Hệ quả là quá trình tái thiết sau thiên tai tại nhiều địa phương thường kéo dài, phụ thuộc vào khả năng cân đối ngân sách từng năm. "Tại các khu vực dễ bị tổn thương, điều này có thể tạo ra vòng lặp thiệt hại - phục hồi - tái thiệt hại khi thiên tai xảy ra với tần suất ngày càng cao", báo cáo nhận định.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, quy mô và mức độ thiệt hại tại Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng. Các hiện tượng thời tiết cực đoan không chỉ xuất hiện dày hơn mà còn diễn biến khó lường. Năm 2024, riêng bão Yagi đã gây thiệt hại kinh tế hơn 91.600 tỷ đồng, khiến hơn 500 người chết và mất tích; năm 2025 có số lượng bão kỷ lục, gây thiệt hại hơn 100.000 tỷ đồng.
Để thu hẹp khoảng cách giữa thiệt hại và khả năng bù đắp, các chuyên gia khuyến nghị cần một cách tiếp cận toàn diện hơn về tài chính khí hậu. Trong đó, việc đa dạng hóa nguồn lực được xem là ưu tiên hàng đầu, bao gồm thúc đẩy sự tham gia của khu vực tư nhân thông qua các chính sách ưu đãi và phát triển công cụ tài chính mới.
"Việc xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia về tổn thất và thiệt hại, cùng với ứng dụng công nghệ như viễn thám và trí tuệ nhân tạo, là nền tảng để nâng cao hiệu quả quản lý và ra quyết định", báo cáo nhấn mạnh.
Trong bối cảnh thiên tai ngày càng cực đoan và chi phí khắc phục không ngừng gia tăng, bài toán tài chính không còn đơn thuần là vấn đề ngân sách mà đã trở thành yếu tố quyết định khả năng phục hồi và phát triển dài hạn. UNDP cảnh báo nếu không sớm thu hẹp khoảng trống này, các cú sốc khí hậu có thể tiếp tục làm gián đoạn tiến trình phát triển, đặc biệt tại khu vực vốn đã dễ bị tổn thương.
Phương Thúy












