Thứ năm, 28/05/2026 07:57 (GMT+7)
Thứ năm, 28/05/2026 07:15 (GMT+7)

Lượng hóa bài toán chi phí - lợi ích để “siêu dự án” sông Hồng đi đúng quỹ đạo xanh

Theo dõi KTMT trên

GS Hoàng Xuân Cơ nhấn mạnh cần áp dụng phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA) để lượng hóa những “giá trị xanh” từ hàng ngàn héc-ta công viên ven sông Hồng.

Lời tòa soạn

Ở bài viết đầu tiên của tuyến bài: “Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng dưới góc nhìn kinh tế môi trường”, Tạp chí Kinh tế Môi trường đã phác họa bức tranh vĩ mô đầy khát vọng về việc “đánh thức dòng sông di sản”, đưa sông Hồng từ vị trí rìa đô thị trở thành trục không gian xanh trung tâm của Hà Nội theo Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm. Tuy nhiên, từ một bản vẽ chiến lược đến thực tiễn triển khai một siêu dự án trị giá hơn 736.000 tỷ đồng, kéo dài suốt 12 năm, lại là một chặng đường đầy rẫy những thách thức. Làm thế nào để nguồn lực đầu tư khổng lồ này thực sự mang lại hiệu quả bền vững? Làm sao để một đại công trường dài hàng chục kilomet không trở thành “gánh nặng” bức tử môi trường nội đô?

Tiếp nối mạch chủ đề, trong bài 2 của tuyến bài, Tạp chí điện tử Kinh tế Môi trường đã có cuộc trao đổi với GS Hoàng Xuân Cơ - Trưởng ban Khoa học (Hội Kinh tế môi trường Việt Nam) - một trong những người đầu tiên ở Việt Nam soạn thảo giáo trình môn Kinh tế môi trường để đưa vào giảng dạy cho nhiều thế hệ sinh viên Việt Nam.

Dưới góc nhìn sắc bén của một chuyên gia đầu ngành, GS Hoàng Xuân Cơ nhấn mạnh sự cấp thiết của việc áp dụng công cụ phân tích chi phí - lợi ích (CBA) để lượng hóa các “giá trị xanh”; đồng thời đặc biệt lưu ý đến bài toán an ninh môi trường sống, đòi hỏi sự minh bạch trong công tác đánh giá tác động môi trường (ĐTM) để siêu dự án này không đi chệch khỏi quỹ đạo phát triển xanh và bền vững.

Trân trọng giới thiệu cùng độc giả bài phỏng vấn GS Hoàng Xuân Cơ!

Bài 2:Lượng hóa bài toán chi phí - lợi ích để “siêu dự án” sông Hồng đi đúng quỹ đạo xanh

GS Hoàng Xuân Cơ nhấn mạnh cần áp dụng phương pháp phân tích chi phí - lợi ích (CBA) để lượng hóa những “giá trị xanh” từ hàng ngàn héc-ta công viên ven sông Hồng. Đồng thời, ông cũng đặc biệt lưu ý đến bài toán an ninh môi trường sống, đòi hỏi sự minh bạch tuyệt đối trong việc thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và công tác quan trắc trên đại công trường, qua đó tạo “lá chắn” bảo vệ sức khỏe cộng đồng và đảm bảo siêu dự án này đi đúng quỹ đạo phát triển bền vững.

Lượng hóa bài toán chi phí - lợi ích để “siêu dự án” sông Hồng đi đúng quỹ đạo xanh - Ảnh 1

Cầu Nhật Tân vượt qua sông Hồng. Ảnh: Zing

Hãy đặt an ninh môi trường sống lên hàng đầu!

Thưa GS Hoàng Xuân Cơ, Nghị quyết 18/NQ-HĐND đã quyết định chủ trương đầu tư Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng với sơ bộ tổng mức đầu tư lên tới gần 736.963 tỷ đồng cho quy mô 11.418 ha. Dưới góc độ phân tích chi phí - lợi ích (CBA), việc Nhà nước quyết tâm rót nguồn lực lớn vào một dự án kéo dài 12 năm (2026-2038) phản ánh tầm nhìn chiến lược như thế nào trong bài toán phát triển bền vững của Thủ đô?

GS Hoàng Xuân Cơ: Đây là câu hỏi rất hay và rất quan trọng nhưng không dễ trả lời. Nhà nước và Thủ đô quyết định đầu tư thì đã có nghiên cứu kỹ nhưng nhiều người chưa được tiếp cận đầy đủ. Tôi không có tài liệu nêu rõ căn cứ khoa học, lợi ích kinh tế - xã hội khi thực hiện dự án này nên chỉ có thể dựa vào lý thuyết để diễn giải suy ngẫm.

Như đã chỉ ra, sơ bộ tổng đầu tư 736.963 tỷ đồng không rõ đã bao gồm đầu tư giải phóng mặt bằng chưa, vì giải phóng mặt bằng quy mô 11.418 ha cần kinh phí không nhỏ (cả cho đền bù, cho tái định cư). Trong văn bản của HĐND Thành phố nêu rõ: Chủ đầu tư là Liên danh Công ty cổ phần Địa ốc Đại Quang Minh, Công ty cổ phần Tập đoàn Trường Hải, Công ty cổ phần Tập đoàn Hòa Phát, nhưng không nêu rõ họ góp vốn và được hưởng lợi như thế nào từ thực hiện dự án. Và nếu họ được giao thực hiện thì các cơ quan quản lý nhà nước phải có bộ phận theo dõi sát sao, đủ sức phát hiện sai phạm thì mới không để xảy ra tác động môi trường, xã hội lớn.

Thực ra, phân tích chi phí - lợi ích (CBA) chưa được áp dụng nhiều trong điều kiện Việt Nam vì các ước tính định lượng chi phí - lợi ích còn gặp nhiều khó khăn, chưa có nhiều cơ quan, công ty, cơ sở nào tập trung nghiên cứu.

Ở nước ngoài, các loại chi phí/lợi ích thực hiện đã được ước tính qua thực hiện các dự án trước đó nên dễ tìm và sử dụng các giá trị có thể chấp nhận được; và nếu có đội ngũ chuyên gia tốt thì họ vẫn có thể tiến hành CBA để hình dung mức độ thu được hiệu quả dự án. Ở Việt Nam đã có một số dự án cụ thể có đánh giá CBA nhưng không nhiều và ít được chú ý.

Tôi rất muốn CBA phải được áp dụng cho dự án này, đặc biệt là đối với các dự án thành phần. Với mục tiêu của dự án là “Đầu tư xây dựng Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng nhằm phát triển hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông, thúc đẩy phát triển không gian đô thị dọc hai bên bờ sông Hồng” và với nhiều (11/18) dự án cụ thể là đầu tư công viên/cụm công viên nên dự án có ý nghĩa lớn về mặt xã hội/cộng đồng và môi trường. Vì vậy, các lợi ích, chi phí môi trường cũng cần ước tính để đưa vào đánh giá chi phí - lợi ích mở rộng để làm rõ hơn hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường của cả Dự án và các dự án thành phần.

Nghị quyết 18 phân chia dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng thành 5 nhóm, trong đó có tới 11 dự án đầu tư cụm công viên tại các bãi sông. Theo GS, việc dự án sẽ hình thành hàng nghìn héc-ta không gian xanh này sẽ mang lại giá trị cốt lõi nào cho mục tiêu hình thành hệ thống không gian xanh liên tục, bảo đảm đa dạng sinh học?

GS Hoàng Xuân Cơ: Quả thật, dự án có tới 11/18 dự án cụ thể là dự án cụm công viên nhưng không nêu rõ loại hình các cụm công viên này ra sao, cụm công viên nào phục vụ trực tiếp dân cư đô thị, cụm công viên nào có tính chất như vùng bảo vệ, ít có hoạt động con người. Nếu có thuyết minh rõ hơn sẽ có thể thấy khả năng tăng diện tích phủ xanh cho thành phố, tăng khả năng sống cho nhiều loại sinh vật, kể cả sinh vật đang bị đe dọa tuyệt chủng.

Hiện tại có nhiều mô hình cụm công viên trong đô thị mang lại hiệu quả cao cả về cảnh quan và hỗ trợ nâng cao đa dạng sinh học, nâng cao chất lượng không khí, tạo không gian sống tốt cho cư dân. Đây là điều mà mọi người mong đợi nhất khi thực hiện dự án. Vì vậy, thiết kế các cụm công viên và phối cảnh chung cần được quan tâm để phát huy được tác dụng vốn có của nó, đảm bảo đẹp, cuốn hút, đáng đến, đáng thăm và hỗ trợ tốt cuộc sống người dân.

Quy hoạch Thủ đô đặt mục tiêu nâng quy mô GRDP năm 2035 đạt khoảng 200 tỷ USD. GS đánh giá như thế nào về vai trò “đòn bẩy vĩ mô” của dự án này trong việc thúc đẩy các ngành công nghiệp xanh, dịch vụ chất lượng cao và đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng GRDP nêu trên?

GS Hoàng Xuân Cơ: Xét trong bối cảnh chung, với 3 quy hoạch phát triển Thủ đô được thực hiện, chắc chắn các mục tiêu đề ra về GRDP sẽ đạt được. Đối với đại đa số nhân dân, ngoài mục tiêu tăng trưởng còn có nhiều mục tiêu liên quan đến an ninh môi trường sống, giảm thiểu đến mức thấp nhất những tác động bất lợi như suy giảm chất lượng môi trường, ngập lụt, di dân… Vì vậy, phải tiến hành đánh giá tác động môi trường chung cho cả dự án và của từng dự án cụ thể thì mới làm rõ những gì có thể xảy ra.

Ngoài 11 dự án cụm công viên thì có 2 dự án xây dựng 2 tuyến đường đại lộ dọc theo đê Hữu Hồng (khoảng 45,35 km) và trục đại lộ cảnh quan Tả Hồng (khoảng 35 km). Đây là dự án cung cấp cơ sở hạ tầng để giúp phát triển chung (cả kinh tế, xã hội, môi trường) của toàn bộ khu vực dự án và vùng xung quanh.

Với tổng diện tích xây dựng các khu định cư khoảng 420 ha (khu đô thị định cư tại phường Long Biên quy mô khoảng 201 ha, khu đô thị định cư tại phường Lĩnh Nam quy mô khoảng 98 ha và khu tái thiết đô thị làng nghề tại xã Bát Tràng quy mô khoảng 120 ha), chắc chắn phải có những dự án sản xuất, cung cấp dịch vụ đi kèm để phục vụ cuộc sống dân cư và tạo việc làm nhưng chưa thấy có định hướng trong Nghị quyết 18/NQ-HĐND. Có lẽ phải xem thêm quy hoạch phát triển để xem xét tính phù hợp của tập trung dân cư và phát triển kinh tế và dịch vụ(!?).

Lượng hóa bài toán chi phí - lợi ích để “siêu dự án” sông Hồng đi đúng quỹ đạo xanh - Ảnh 2
Phối cảnh trục đại lộ cảnh quan sông Hồng.

Minh bạch báo cáo ĐTM và dữ liệu quan trắc là "lá chắn" bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Với một công trường khổng lồ gồm tuyến Hữu Hồng dài 45,35 km và tuyến Tả Hồng dài 35 km thi công liên tục trong nhiều năm, hệ thống quan trắc và quản lý chất lượng môi trường không khí, tiếng ồn cần được thiết lập khắt khe như thế nào để bảo vệ sức khỏe người dân nội đô, thưa GS?

GS Hoàng Xuân Cơ: Tác động môi trường sẽ xảy ra trong quá trình thi công, xây dựng các dự án cụ thể, đặc biệt là công trường khổng lồ xây dựng tuyến Hữu Hồng dài 45,35 km và tuyến Tả Hồng dài 35 km thi công liên tục trong nhiều năm. Tuy nhiên, hoạt động xây dựng đường, cầu cống của Việt Nam đã ở tầm cao với nhiều loại vật liệu đủ chất lượng, với những máy móc thiết bị hiện đại và đội ngũ công nhân, kỹ sư có trình độ cao, tầm khu vực nên sẽ hạn chế được những tác động tiêu cực ở mức chấp nhận được.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào kiểm soát được các hoạt động xây dựng để đảm bảo chất lượng công trình tốt và dự báo, kiểm soát được vấn đề giảm thiểu tác động như cách ly công trường với khu dân cư đủ xa các hoạt động xung quanh. Phải có cán bộ theo dõi sát sao quá trình thực hiện dự án, trong đó có việc kiểm soát các tác động môi trường do thi công gây ra, đáng kể nhất là bụi phát sinh, phát thải vào môi trường.

Theo những gì chúng tôi biết thì đây là điểm còn nhiều hạn chế. Chúng ta trông chờ các chủ dự án lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), đưa ra các giải pháp giảm phát sinh bụi ra môi trường (che chắn, rửa xe, phun nước,…) và lắp đặt các trạm quan trắc chất lượng không khí ở một số địa điểm, hiển thị để cộng đồng biết.

Tất nhiên, đã là hoạt động phát triển mang tính lộ thiên như các dự án thành phần của cả Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng nói chung và xây dựng tuyến Hữu Hồng, Tả Hồng nói riêng chắc chắn sẽ có tác động môi trường, nhưng nếu các cơ quan có trách nhiệm làm tốt công tác của mình, làm sớm, làm hiệu quả và quyết tâm thì tác động có hại sẽ giảm xuống mức có thể chấp nhận được.

Cụ thể, chủ dự án phải lập ĐTM, trong đó chỉ rõ các giải pháp giảm thiểu tác động môi trường bất lợi và thiết lập cơ chế kiểm soát tác động thông qua việc lắp đặt, vận hành các trạm quan trắc chất lượng môi trường để thu thập xử lý số liệu, cung cấp cho các cơ quan quản lý và cộng đồng; các cơ quan quản lý môi trường phải có hệ thống kiểm soát thường xuyên, phải nắm bắt được ý kiến của người dân xung quanh dự án, ý kiến của các nhà khoa học để sớm phát hiện tác động và cùng dự án khắc phục kịp thời.

Lượng hóa bài toán chi phí - lợi ích để “siêu dự án” sông Hồng đi đúng quỹ đạo xanh - Ảnh 3

Quy hoạch Thủ đô tầm nhìn 100 năm nhấn mạnh việc bảo tồn di sản, tái thiết gắn liền với hình ảnh Hà Nội “Văn hiến - Bản sắc - Sáng tạo”. Theo GS, các khu đô thị định cư, khu tái thiết làng nghề (ví dụ như Bát Tràng) cần tuân thủ những tiêu chuẩn kiến trúc sinh thái nào để không phá vỡ cảnh quan tự nhiên của sông Hồng?

GS Hoàng Xuân Cơ: Đây là vấn đề khó vì giữa phát triển và bảo tồn luôn có những điểm khó thống nhất. Trong điều kiện hiện nay, chúng ta luôn hướng tới Thủ đô hiện đại với những đại lộ rộng rãi, nối liền các miền phát triển, đẩy nhanh lưu thông hàng hóa, giảm thời gian đi lại; với những khu công nghiệp lớn, hiện đại, sản xuất ra các mặt hàng giá trị, có thể xuất khẩu thu nhiều ngoại tệ, phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của con người hay những khu đô thị cao tầng với căn hộ, biệt thự đầy đủ tiện nghi cùng hệ thống cung cấp dịch vụ (nhà hàng, nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, cơ sở y tế, thể thao, giải trí…).

Tất nhiên, chúng ta phải sử dụng quỹ đất rất lớn và trong đó có thể tồn tại những tài nguyên, tài sản văn hóa lâu đời (đền chùa, khu di tích, làng nghề, lễ hội…) cho các hoạt động dự án. Vì vậy, để có thể dung hòa lợi ích phải có sự đồng thuận của nhiều tầng lớp dân chúng, đặc biệt là cộng đồng có di tích văn hóa, của các nhà khoa học văn hóa. Muốn vậy, rất cần sự vào cuộc của rất nhiều người, nghiên cứu, tìm hiểu kỹ giá trị của các di tích văn hóa này để tìm cách giữ lại những giá trị có thể giữ được cho các thế hệ mai sau.

Có lẽ làng nghề Bát Tràng là điểm được nhiều người quan tâm nhưng những người già như chúng tôi cũng đã chứng kiến nhiều đổi thay diễn ra trong ngôi làng nghề truyền thống này. Những nghệ nhân ở đây vẫn cố gắng giữ những nét riêng của men gốm nhưng đã cải tiến quá trình nung từ sử dụng củi, than sang dùng khí gas và sau này là điện.

Thế hệ chúng tôi vẫn nhớ làng nghề Bát Tràng trước đây đầy bụi khói (do lò đun than), nhưng sau này làng đã sạch hơn và nhà ở trước đây có phần khiêm tốn giờ đã khang trang hơn. Trước đây, hàng gốm Bát Tràng bán sản phẩm cho những khách hàng quen, hiểu biết giá trị nhiều mặt của sản phẩm còn bây giờ là nhờ những quảng cáo, tiếp thị hiện đại, qua các trang mạng cá nhân, trang mạng chung làng nghề và tiếng tăm vang đội cả ra những nước có sản phẩm gốm sứ truyền thống khác như Nhật Bản, Indonesia, Thái Lan,…

Người ta vẫn đang chứng kiến những màu men lạ, đẹp, những mẫu mã mang hơi thở thời đại và cả những sản phẩm độc lạ, riêng có ở Bát Tràng. Những kết quả có được nhờ các nghệ nhân yêu nghề, đầy sáng tao với nhiều mẫu men; nhờ những bí mật riêng, trong đó có việc kiểm soát nhiệt độ nung đúng như ý muốn. Và, còn nhiều “ngón nghề” nhiều kinh nghiệm chế biến đất để có những mẻ gốm chất lượng cao, mẫu mã đẹp thu hút các công ty thu mua thương mại trong và ngoài nước.

Cơ chế bảo tồn vốn kỹ thuật truyền thống đã có ở Bát Tràng, hy vọng sẽ được duy trì và có thể áp dụng cho những làng nghề, di tích khác khi thực hiện Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng.

Trân trọng cảm ơn GS Hoàng Xuân Cơ về cuộc trao đổi này!

Khánh Linh

Bạn đang đọc bài viết Lượng hóa bài toán chi phí - lợi ích để “siêu dự án” sông Hồng đi đúng quỹ đạo xanh. Thông tin phản ánh, liên hệ đường dây nóng : 0937 68 8419 Hoặc email: [email protected]

Cùng chuyên mục

Sắp diễn ra tọa đàm về kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp
Viện Chính sách kinh tế môi trường (Hội Kinh tế môi trường Việt Nam) phối hợp UNDP Việt Nam và Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường (ISPAE) tổ chức Tọa đàm về thực trạng và triển vọng áp dụng kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp.

Tin mới