Khoa học - Công nghệ thúc đẩy kinh tế xanh, phát triển bền vững tỉnh Thái Nguyên
Khoa học và Công nghệ chính là “động lực trung tâm”, là nền tảng giúp Thái Nguyên hiện thực hóa mục tiêu thúc đẩy kinh tế xanh và phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
Lời tòa soạn
Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh và Chương trình chuyển đổi số quốc gia, tỉnh Thái Nguyên - trung tâm công nghiệp, giáo dục và khoa học của khu vực trung du, miền núi phía Bắc - đang thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong việc đưa khoa học và công nghệ (KH&CN) trở thành trụ cột của phát triển bền vững.
Là cái nôi của công nghiệp nặng với gang thép và khai khoáng, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, Thái Nguyên xác định KH&CN là “chìa khóa” để thay đổi diện mạo nền kinh tế. Trong nông nghiệp, tỉnh đang chứng minh rằng “xanh hóa” nông nghiệp thông qua KH&CN chính là hướng đi giúp người nông dân làm giàu bền vững, đặc biệt là với đặc sản Trà Thái Nguyên. Để KH&CN thực sự thúc đẩy kinh tế xanh, Thái Nguyên tập trung vào việc xây dựng một hệ sinh thái đồng bộ giữa Chính quyền - Nhà trường - Doanh nghiệp.
Hành trình xanh hóa của Thái Nguyên là minh chứng cho việc nếu biết tận dụng sức mạnh của KH&CN, một địa phương có nền tảng công nghiệp nặng vẫn có thể chuyển mình mạnh mẽ, mở ra hướng đi mới cho phát triển kinh tế xanh, hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.
Tạp chí điện tử Kinh tế Môi trường triển khai loạt bài với chủ đề “Khoa học - Công nghệ thúc đẩy kinh tế xanh, phát triển bền vững tỉnh Thái Nguyên”. Ba bài viết trong tuyến bài sẽ tập trung phản ánh vai trò chỉ đạo của Tỉnh ủy, sự vào cuộc của các cấp, ngành; đồng thời ghi nhận những nỗ lực của Sở Khoa học và Công nghệ trong việc đưa các tiến bộ kỹ thuật, công nghệ số, đổi mới sáng tạo vào thực tiễn, thúc đẩy kinh tế xanh, phát triển bền vững.
Với tinh thần đó, Ban biên tập Tạp chí Kinh tế Môi trường xin giới thiệu tới Quý độc giả bài viết đầu tiên với tiêu đề: “Vai trò then chốt của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên”.
Bài 1: Vai trò then chốt của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên
Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Thái Nguyên đã và đang khẳng định vai trò then chốt trong việc đưa khoa học - công nghệ trở thành động lực quan trọng thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng, hướng tới nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường.
Ứng dụng KH&CN vào các ngành kinh tế chủ lực
Thái Nguyên là tỉnh có nền công nghiệp phát triển năng động, đồng thời cũng là trung tâm nông nghiệp và giáo dục của khu vực trung du, miền núi phía Bắc. Nhận thức rõ vai trò của khoa học và công nghệ trong phát triển bền vững, Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Thái Nguyên đã tập trung triển khai các chương trình, đề tài và dự án ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất - đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, môi trường, phát triển kinh tế số và đổi mới sáng tạo. Tỉnh đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp từ hoàn thiện hạ tầng, hỗ trợ doanh nghiệp đến chuyển đổi số toàn diện.

Trong ngành công nghiệp, Thái Nguyên đã chuyển dịch mạnh mẽ từ các ngành khai khoáng, luyện kim truyền thống sang công nghiệp công nghệ cao, đặc biệt là điện tử. Tỉnh tập trung thu hút và tạo điều kiện cho các tập đoàn lớn (như Samsung, Dongwha) ứng dụng dây chuyền sản xuất tự động hóa, robot và trí tuệ nhân tạo (AI); Phát triển các nền tảng số cho ngành may mặc (như tại Công ty TNG) với các máy đính mác Ultrasonic, hệ thống quản trị ERP để tối ưu hóa quy trình; Thẩm định công nghệ nghiêm ngặt cho các dự án đầu tư mới để ngăn chặn thiết bị lạc hậu, ô nhiễm.
Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sạch, công nghệ tái chế, năng lượng tái tạo giúp giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên, đồng thời hình thành các mô hình tăng trưởng xanh - phù hợp với định hướng phát triển kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường. Các chương trình nghiên cứu và chuyển giao công nghệ được thiết kế bám sát nhu cầu thực tiễn, hỗ trợ doanh nghiệp cải tiến, đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại để nâng cao năng suất và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Với những nỗ lực đó, Thái Nguyên giữ vững đà tăng trưởng công nghiệp. Giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh năm 2025 ước đạt gần 1.058 nghìn tỷ đồng, tăng 6,37% so với năm 2024. Trong đó, khu vực FDI (ứng dụng công nghệ cao) chiếm khoảng 93%. Riêng quý IV/2025, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 306,7 nghìn tỷ đồng, tăng 7,2% so với cùng kỳ.

Cùng với công nghiệp, lĩnh vực nông nghiệp của Thái Nguyên cũng được định hướng phát triển theo hướng “xanh, tuần hoàn, thông minh”. Sở KH&CN đã triển khai nhiều dự án hỗ trợ nông dân ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất, chế biến nông sản, sử dụng năng lượng tái tạo và phụ phẩm nông nghiệp. Mục tiêu là chuyển đổi từ mô hình nông nghiệp công nghệ cao sang nông nghiệp xanh - vừa bảo vệ môi trường, vừa nâng cao giá trị sản phẩm, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đặc biệt, các nhiệm vụ KH&CN được gắn chặt với chương trình xây dựng nông thôn mới, giúp nông dân tiếp cận công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, tăng hiệu quả kinh tế và đảm bảo an toàn sinh thái.
Việc ứng dụng KH&CN của Thái Nguyên tập trung vào 3 trụ cột chính: Công nghệ sinh học, Công nghệ tưới tiêu tự động và Chuyển đổi số.
Sản xuất chè đặc sản là thế mạnh lớn nhất của Thái Nguyên. Tỉnh áp dụng quy trình VietGAP, GlobalGAP và công nghệ chế biến sâu. Nhiều vùng chè tại Tân Cương, La Bằng đã lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm tự động và sử dụng cảm biến để theo dõi độ ẩm đất.
Ứng dụng nông nghiệp thông minh, tỉnh triển khai các mô hình nông nghiệp sử dụng nhà màng, nhà lưới có hệ thống điều khiển nhiệt độ và ánh sáng tự động để trồng rau thủy canh, hoa lan và nấm linh chi.
Ngoài ra, tỉnh cũng áp dụng mã QR và hệ thống phần mềm quản lý sản xuất để minh bạch hóa nguồn gốc nông sản, giúp người tiêu dùng dễ dàng kiểm tra chất lượng.
Việc đưa KH&CN vào đồng ruộng đã mang lại những con số ấn tượng cho kinh tế địa phương. Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng trọt cây hàng năm đạt bình quân trên 120 triệu đồng/ha (nhiều mô hình chè đặc sản đạt từ 500-800 triệu đồng/ha). Tỷ lệ diện tích chè giống mới (có năng suất, chất lượng cao) chiếm trên 80% tổng diện tích toàn tỉnh. Sản phẩm chè Thái Nguyên đã có mặt tại hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường EU và Nhật Bản.
Toàn tỉnh hiện có hàng trăm hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, giảm thiểu rủi ro từ dịch bệnh và biến đổi khí hậu nhờ các biện pháp canh tác bền vững.

Trước thách thức của biến đổi khí hậu, Sở KH&CN Thái Nguyên đã chủ động triển khai các nghiên cứu và ứng dụng trong quản lý tài nguyên, kiểm soát phát thải và bảo tồn đa dạng sinh học. Nhiều đề tài tập trung vào việc xây dựng cơ sở dữ liệu phát thải khí nhà kính, phát triển thị trường carbon, cũng như áp dụng các giải pháp kỹ thuật trong phòng chống thiên tai và quản lý nguồn nước.
Song song đó, Sở cũng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ năng lượng sạch, hệ thống sản xuất tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường, coi đây là hướng đi tất yếu để hội nhập và phát triển bền vững.
Thái Nguyên xác định KH&CN là “chìa khóa” để giải quyết bài toán giữa phát triển kinh tế công nghiệp “nóng” và bảo vệ môi trường bền vững. Tỉnh triển khai KH&CN vào 3 nhóm nhiệm vụ chính.
Thứ nhất, quan trắc và giám sát tự động: Ứng dụng công nghệ IoT (internet vạn vật) và truyền tin không dây để theo dõi các nguồn thải lớn. Các trạm quan trắc tự động được lắp đặt tại các khu công nghiệp (KCN) và nhà máy lớn (như Gang thép Thái Nguyên, Samsung, các mỏ khai thác khoáng sản).
Thứ hai, xử lý chất thải và tuần hoàn tài nguyên. Thái Nguyên áp dụng các công nghệ hiện đại trong xử lý nước thải sinh hoạt đô thị và nước thải công nghiệp, đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ sinh học trong xử lý rác thải hữu cơ và phế phụ phẩm nông nghiệp tại các vùng nông thôn.
Thứ ba, tỉnh khuyến khích doanh nghiệp đổi mới dây chuyền công nghệ, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính và bụi mịn.

Việc ứng dụng KH&CN đã mang lại những chuyển biến tích cực về mặt chỉ số môi trường. 100% các khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn và lắp đặt trạm quan trắc tự động truyền dữ liệu về Sở TN&MT 24/7. Tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại đô thị đạt trên 95%. Nhiều mô hình xử lý chất thải chăn nuôi bằng đệm lót sinh học và Biogas được nhân rộng. Giảm thiểu đáng kể tình trạng ô nhiễm bụi và nước thải tại các vùng khai thác khoáng sản trọng điểm như Đại Từ, Đồng Hỷ thông qua công nghệ lắng lọc hồ thải tầng thứ.
Có thể kể đến một số mô hình tiêu biểu trong việc ứng dụng KH&CN vào bảo vệ môi trường như: Mô hình kinh tế tuần hoàn tại các vùng chè (ứng dụng công nghệ chế biến sâu và tận dụng bã chè làm phân bón hữu cơ, giúp giảm lượng phân bón hóa học và bảo vệ nguồn nước ngầm); Hệ thống xử lý nước thải tập trung tại KCN Yên Bình (sử dụng công nghệ xử lý sinh học kết hợp màng lọc tiên tiến, đảm bảo nước thải sau xử lý đạt tiêu chuẩn loại A trước khi xả ra môi trường).
Trong phát triển kinh tế số và đổi mới sáng tạo (ĐMST), Thái Nguyên là một trong những địa phương đi đầu cả nước về chuyển đổi số. Tỉnh xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp ĐMST gắn liền với Đại học Thái Nguyên (trung tâm đào tạo lớn thứ 3 cả nước); đẩy mạnh thương mại điện tử với việc đưa sản phẩm lên các sàn Shopee, TikTok và triển khai thanh toán không dùng tiền mặt tại các “Chợ 4.0”. Ngoài ra, tỉnh còn áp dụng hóa đơn điện tử cho 100% doanh nghiệp và hộ kinh doanh.
Sau nhiều năm nỗ lực, kiên trì thu hút đầu tư, ứng dụng công nghệ vào các ngành sản xuất, thương mại, đổi mới sáng tạo, kinh tế số ngày càng chiếm tỷ trọng cao ở Thái Nguyên. Theo đánh giá của Tổng cục Thống kê, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP của tỉnh Thái Nguyên năm 2024 chiếm 35,5%, đứng thứ 3 trong 63 tỉnh, thành phố trước sáp nhập. Chỉ số ĐMST cấp địa phương (PII) năm 2023 đứng thứ 10 cả nước và dẫn đầu Vùng Trung du và miền núi phía Bắc. Tổng doanh thu kinh tế số năm 2024 đạt trên 711 nghìn tỷ đồng.
Ba nhóm nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển KH&CN
Trong thời gian qua, Sở KH&CN Thái Nguyên đã triển khai đồng bộ nhiều cơ chế, chính sách và chương trình hỗ trợ, tập trung vào ba nhóm nhiệm vụ lớn:
Thứ nhất, hỗ trợ tìm kiếm, đổi mới và chuyển giao công nghệ.
Hoạt động hỗ trợ tìm kiếm, đổi mới và chuyển giao công nghệ tại Sở KH&CN tỉnh Thái Nguyên đóng vai trò là “đòn bẩy” quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp địa phương.
Sở KH&CN Thái Nguyên đóng vai trò là cầu nối giữa các nhà khoa học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Hàng năm, Sở tổ chức và hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp tham gia trưng bày, giới thiệu sản phẩm tại các sự kiện như Chợ công nghệ và thiết bị (Techmart), các hội chợ, triển lãm trong và ngoài tỉnh.
Năm 2020, Sở tổ chức “Điểm kết nối cung - cầu công nghệ vùng Trung du, miền núi phía Bắc” tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; năm 2024, phối hợp tổ chức triển lãm thiết bị, máy móc tiên tiến phục vụ ngành chè. Thông qua các hoạt động này, nhiều doanh nghiệp và hợp tác xã đã tiếp cận, thử nghiệm và ứng dụng thành công các giải pháp công nghệ hiện đại, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và giá trị thương hiệu.
Sở xác định thúc đẩy đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp là nội dung trọng tâm nhằm thay đổi tư duy sản xuất cũ bằng các quy trình hiện đại hơn. Sở tập trung vào các nhiệm vụ chính như: hỗ trợ tài chính; xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp; nâng cao năng suất, chất lượng…
Sở KH&CN tỉnh Thái Nguyên đã và đang làm tốt vai trò “kiến tạo” môi trường để công nghệ len lỏi vào từng ngách của đời sống kinh tế.

Sở KH&CN kiểm tra thực tế hoạt động đo lường tại Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên.
Thứ hai, nâng cao năng suất - chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo Quyết định 1322/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Việc triển khai Quyết định 1322/QĐ-TTg (về Chương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa giai đoạn 2021-2030) tại tỉnh Thái Nguyên đã mang lại những chuyển biến rõ rệt. Dưới vai trò tham mưu và thực hiện của Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) tỉnh Thái Nguyên, chương trình này đã trở thành “đòn bẩy” quan trọng cho kinh tế địa phương.
Sở KH&CN Thái Nguyên đã cụ thể hóa Quyết định 1322 thông qua việc hướng dẫn doanh nghiệp tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế và công cụ quản trị hiện đại. Sở đã hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến như ISO 9001, ISO 14001, ISO 50001, cũng như các công cụ cải tiến năng suất Lean, 5S.
Giai đoạn 2021-2025, có 17 tổ chức, doanh nghiệp được hỗ trợ áp dụng hệ thống quản lý và công cụ cải tiến năng suất; 5 doanh nghiệp OCOP được hỗ trợ xây dựng chương trình đảm bảo đo lường; 2 doanh nghiệp được hỗ trợ áp dụng hệ thống quản lý tinh gọn (LEAN) kết hợp ISO 15189:2022 cho phòng xét nghiệm. Nhờ đó, nhiều đơn vị đã giảm chi phí nguyên liệu - năng lượng, cải thiện môi trường làm việc và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Việc nâng cao năng suất và chất lượng không chỉ dừng lại ở các con số kỹ thuật mà còn tác động trực tiếp đến sức cạnh tranh của tỉnh, như góp phần nâng cao đóng góp của Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GRDP của tỉnh.
Sở KH&CN đã lồng ghép giải pháp sản xuất thông minh và chuyển đổi số vào hoạt động của doanh nghiệp, giúp giảm chi phí lãng phí và tăng tốc độ đưa sản phẩm ra thị trường. Đặc biệt trong ngành chè và cơ khí, các doanh nghiệp sau hỗ trợ đã tăng năng suất từ 20-25%, sản phẩm đạt độ chính xác cao và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thứ ba, hỗ trợ bảo hộ và phát triển tài sản sở hữu trí tuệ.
Sở KH&CN tỉnh Thái Nguyên đóng vai trò chủ đạo trong việc đưa sở hữu trí tuệ trở thành công cụ đắc lực để nâng cao giá trị sản phẩm địa phương. Công tác hỗ trợ đăng ký, bảo hộ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ được Sở chú trọng thực hiện, giúp doanh nghiệp bảo vệ thành quả sáng tạo và phát triển thương hiệu bền vững.
Sở đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các văn bản quan trọng, tạo hành lang pháp lý và nguồn lực tài chính ổn định. Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản sở hữu trí tuệ, giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến 2030, tập trung vào việc hỗ trợ kinh phí đăng ký bảo hộ trong và ngoài nước. Nghị quyết của HĐND tỉnh cũng đã quy định mức chi hỗ trợ cụ thể cho các tổ chức, cá nhân khi xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với các sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP.
Đến nay, toàn tỉnh có 15 bằng độc quyền sáng chế, 6 kiểu dáng công nghiệp và hơn 700 nhãn hiệu được bảo hộ. Đặc biệt, nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên” đã được bảo hộ tại Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga và Liên minh châu Âu (EU) - minh chứng cho sự phát triển mạnh mẽ của thương hiệu địa phương trong hội nhập quốc tế.
Sở KH&CN tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện rất tốt vai trò “bà đỡ” cho các tài sản trí tuệ địa phương. Việc tập trung vào các sản phẩm thế mạnh (đặc biệt là chè) đã tạo ra mô hình mẫu để nhân rộng cho các loại hình tài sản trí tuệ khác như sáng chế và giải pháp hữu ích trong lĩnh vực công nghiệp và công nghệ cao của tỉnh.
Hướng tới tương lai xanh và bền vững
Trong xu thế phát triển bền vững toàn cầu, tỉnh Thái Nguyên đã và đang khẳng định vị thế là trung tâm công nghiệp, giáo dục của vùng Trung du miền núi phía Bắc. Trong đó, Sở KH&CN tỉnh Thái Nguyên đóng vai trò là “kiến trúc sư trưởng”, dẫn dắt quá trình chuyển đổi xanh thông qua việc ứng dụng công nghệ hiện đại và đổi mới mô hình tăng trưởng.
Chuyển đổi xanh không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yêu cầu cấp bách của doanh nghiệp và toàn xã hội. Với vai trò là cơ quan tham mưu, quản lý nhà nước về KH&CN, Sở KH&CN tỉnh Thái Nguyên xác định việc hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chính là nhiệm vụ trọng tâm để thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững.

Sở KH&CN tỉnh Thái Nguyên xác định chuyển đổi xanh không chỉ là yêu cầu về môi trường mà còn là cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp địa phương. Mục tiêu trọng tâm bao gồm: giảm phát thải (khuyến khích các dự án nghiên cứu giảm dấu chân carbon trong sản xuất công nghiệp); kinh tế tuần hoàn (ứng dụng công nghệ để tái chế phế liệu, phụ phẩm nông nghiệp thành tài nguyên) và năng lượng sạch (thúc đẩy sử dụng năng lượng tái tạo trong các cơ quan và doanh nghiệp).
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Sở KH&CN tỉnh Thái Nguyên tích cực hướng dẫn các doanh nghiệp tiếp cận các quỹ đổi mới công nghệ để thay thế dây chuyền cũ, lạc hậu bằng công nghệ tiết kiệm năng lượng. Việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như ISO 14001 (Quản lý môi trường) và ISO 50001 (Quản lý năng lượng) đang được ưu tiên hàng đầu.
Thái Nguyên nổi tiếng với đặc sản chè. Sở đã chỉ đạo thực hiện nhiều đề tài khoa học về sản xuất chè theo hướng hữu cơ, VietGAP và GlobalGAP; ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm và phân bón sinh học; sử dụng mã số mã vạch và truy xuất nguồn gốc để đảm bảo tính minh bạch và bền vững của sản phẩm.
Thông qua các cuộc thi khởi nghiệp, Sở KH&CN ưu tiên các dự án có tính bền vững cao, sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường hoặc giải quyết các vấn đề về xử lý nước thải, rác thải tại các khu công nghiệp tập trung như Yên Bình, Điềm Thụy.
Trong giai đoạn tới, Sở tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao trong quản lý tài nguyên, năng lượng, nông nghiệp và sản xuất công nghiệp; phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp xanh; góp phần đưa Thái Nguyên trở thành tỉnh phát triển nhanh, bền vững, gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân.
Nguyên Mạnh - Tiến Nguyên














