Âm vang cồng chiêng: Hơi thở của đại ngàn (Bài 1)
Giữa đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ, cồng chiêng không chỉ là nhạc cụ, linh hồn văn hóa, nhịp đập của cộng đồng, mà còn là tiếng nói gửi gắm tâm tư, khát vọng của con người đến thần linh và thiên nhiên.
Nhịp sống Ê Đê gói trong... tiếng chiêng
Với đồng bào Ê Đê tỉnh Đắk Lắk, âm vang cồng chiêng hiện diện trong từng khoảnh khắc đời sống – từ lễ hội rộn rã đến phút sum vầy bên ché rượu cần, từ niềm vui mừng nhà mới đến nỗi buồn tiễn biệt người thân.
Nghệ nhân ưu tú Ama H'Loan (buôn Ako Dhông, phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk) kể rằng: “Cuộc đời người Ê Đê từ khi sinh ra đến lúc nhắm mắt đều có tiếng chiêng. Trước đây, nhà nào cũng phải có một bộ chiêng, có người phải đổi đến 20 con trâu để lấy một bộ chiêng. Gia đình nào có nhiều chiêng, buôn làng nào có người sở hữu nhiều bộ chiêng quý thì được xem là giàu có, có uy tín và sức mạnh linh thiêng. Cũng vì vậy, trong buôn, từ trẻ đến già đều biết đánh chiêng”.

Ở tuổi 77, đôi tay chai sần của Nghệ nhân ưu tú Y Sơn Niê (buôn Kmơng A, phường Tân An, tỉnh Đắk Lắk) vẫn giữ nhịp những bài chiêng đã ngấm vào máu thịt hơn 60 năm. Ông nói: “Cồng chiêng là hơi thở của buôn làng. Vui cũng có chiêng, buồn cũng có chiêng. Thiếu âm vang ấy, bất kỳ lễ cúng nào cũng không còn trọn vẹn nữa”.
Ông Y Sơn cho biết, ông bắt đầu học đánh chiêng từ năm 15 tuổi. Mỗi buổi chăn bò lại là một buổi ông tập đánh chiêng tre cùng đám bạn. Khi đã đánh thành thạo chiêng tre, ông mới được các già làng truyền dạy cho đánh chiêng đồng. “Học đánh chiêng không phải một hai ngày là đánh được. Có người học cả tháng, thậm chí vài tháng mới bắt nhịp đúng”, ông nói.

Theo ông Y Du Ê Ban (SN 1966, trú tại buôn Sút Mđưng, xã Quảng Phú, tỉnh Đắk Lắk), không chỉ người Ê Đê mà nhiều dân tộc Tây Nguyên đều sử dụng cồng chiêng. Mỗi cộng đồng có cách tổ chức dàn chiêng, cách đánh chiêng, số lượng chiêng khác nhau, nhưng điểm chung là tiếng chiêng luôn cất lên trong sinh hoạt cộng đồng như lời nhắc nhớ về cội nguồn và niềm tự hào của dân tộc.
Những người giữ lửa cho tiếng chiêng ngân vang
Thế nhưng, giữa vòng xoáy của cuộc sống hiện đại, tiếng chiêng đang đứng trước nhiều thách thức. Nghệ nhân Y Bây Kbuôr (buôn Kmơng A, phường Tân An) trăn trở: “Với người lớn tuổi, tiếng chiêng không chỉ là âm nhạc mà là hơi thở buôn làng, là tiếng gọi thần linh, là lời kể của sử thi. Tôi được thừa hưởng từ ông bà nên chỉ mong buôn làng có điều kiện duy trì, nhân rộng để giá trị truyền thống không mất đi”.

Nghệ nhân Y Bây Kbuôr cũng cho biết, Câu lạc bộ văn hóa dân gian buôn Kmơng A được thành lập năm 2018, hiện có 35 thành viên. Tuy nhiên, câu lạc bộ chưa có nguồn kinh phí hỗ trợ thường xuyên, nên việc duy trì hoạt động gặp nhiều khó khăn. Bà con trong buôn vẫn yêu chiêng, muốn giữ chiêng, nhưng vì mưu sinh phải đi làm ăn xa, đi nương rẫy, nên mỗi khi vận động các thành viên tham gia tập luyện, duy trì tiếng chiêng trong buôn làng đều gặp trở ngại.
Nỗi lo ấy còn hiện hữu rõ trong chia sẻ của nghệ nhân Y Ninh Êban (xã Liên Sơn, huyện Lắk). Ông cho hay: “Chiêng tốt giờ hiếm lắm. Nhiều bộ chiêng cổ thất lạc, nhiều bài chiêng cũ ít người biết. Thanh niên bận đi làm, đi học, không phải ai cũng có thời gian về làng tập luyện. Muốn vận động các cháu đi học đánh chiêng phải đến từng nhà năn nỉ. Lớp trẻ không còn mặn mà, không quan tâm đến cồng chiêng nữa. Không gian sinh hoạt cũng nhỏ lại, nhiều nghi lễ xưa không còn đủ điều kiện tổ chức”.
Nỗi trăn trở ấy không chỉ của riêng các nghệ nhân, mà còn là khoảng lặng chênh vênh của nhiều buôn làng và của cả các cơ quan quản lý. Bởi mỗi nhịp chiêng thưa vắng là nguy cơ một “kho báu văn hóa” đang dần đứng bên bờ lãng quên.

Giữa những trăn trở ấy, nhiều nghệ nhân trong các buôn làng vẫn lặng lẽ gìn giữ và trao truyền, để tiếng chiêng còn ngân vang mãi với thời gian.
Ở buôn Cuôr Kap (phường Tân Lập), ông Y Su Kbuôr (60 tuổi) vẫn không ngừng nỗ lực, cùng cộng đồng gìn giữ tiếng chiêng trong các buổi sinh hoạt, nghi lễ truyền thống. Buôn hiện còn hơn 10 bộ chiêng, đồng thời duy trì 2 đội chiêng trẻ và 1 đội chiêng người lớn. Mỗi khi tỉnh hay địa phương tổ chức lễ hội, hội thi về cồng chiêng, các nghệ nhân trong buôn đều tích cực tham gia, với mong muốn tiếng chiêng của buôn được lan tỏa rộng rãi hơn đến người dân và du khách.
Nghệ nhân Y Ninh Êban cũng đang truyền lại toàn bộ kinh nghiệm của mình cho lớp trẻ. Ông nói: “Chúng tôi tuổi đã cao, chân chậm, tay run, nhưng trái tim lúc nào cũng hướng về chiêng. Tôi chỉ mong truyền hết những gì mình biết để mai này các cháu tự tin cầm chiêng, biết đánh đúng bài, giữ đúng cái hồn của dân tộc mình”.

Tương tự, ông Y Du Ê Ban (buôn Sút Mđưng, xã Quảng Phú) cũng là một trong những người lặng lẽ giữ lửa cho cồng chiêng. Hễ trong buôn có ai muốn học, ông sẵn sàng gác lại công việc gia đình, cá nhân để truyền dạy, kiên nhẫn uốn từng nhịp, sửa từng tiếng, chỉ mong có thêm những đôi tay trẻ tiếp nối truyền thống của buôn làng.
Năm 2005, Không gian Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO ghi danh là Kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đến năm 2008, di sản tiếp tục được đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Sự kiện này đặt lên vai các tỉnh Tây Nguyên, trong đó Đắk Lắk là trung tâm tiêu biểu, trách nhiệm lớn lao trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản.
Còn nữa...
Thơ Trịnh












