Ứng phó với Biến đổi khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long và những vấn đề đặt ra cho công tác tuyên truyền, vận động

  1. Đặt vấn đề

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng châu thổ phì nhiêu, chiếm 12% diện tích, 19% dân số cả nước, mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc; có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế cả về nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản, du lịch sinh thái, năng lượng tái tạo; là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam: đóng góp 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây của cả nước; 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng cá xuất khẩu; có vị trí thuận tiện trong giao thương với các nước ASEAN và Tiểu vùng sông Mê Công.

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước vùng đất này đã có sự phát triển rõ rệt, đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Cơ sở hạ tầng từng bước được đầu tư đồng bộ, đảm bảo phục vụ tốt hơn cho các hoạt động kinh tế – xã hội, đời sống nhân dân không ngừng cải thiện; đã khẳng định được vị thế là trung tâm sản xuất, xuất khẩu lúa gạo, thủy hải sản và cây ăn quả hàng đầu của cả nước.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, đồng bằng sông Cửu Long có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức do đây là vùng đất rất dễ chịu sự tác động của tự nhiên. Biến đổi khí hậu và nước biển dâng diễn ra nhanh hơn dự báo, gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, ảnh hưởng đến sinh kế và đời sống của người dân. Việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ, đặc biệt là xây dựng đập thủy điện đã làm thay đổi dòng chảy, giảm lượng phù sa, suy giảm nguồn lợi thủy sản, xâm nhập mặn sâu vào nội vùng, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế – xã hội của vùng. Mặt trái từ hoạt động phát triển kinh tế với cường độ cao ở nội vùng bộc lộ ngày càng gay gắt, gây nhiều hệ lụy như: ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng, sụt lún đất, suy giảm mực nước ngầm, xâm thực bờ biển, nhiều diện tích rừng tự nhiên, nhất là rừng ngập mặn, rừng tràm, rừng phòng hộ bị chặt phá, chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác hoặc bị suy thoái nặng nề. Bên cạnh đó, việc khai thác bùn cát quá mức, xây dựng nhà cửa và hạ tầng sát bờ sông, kênh, rạch làm gia tăng nguy cơ sạt lở.

Các cấp ủy, chính quyền ở ĐBSCL nhận thấy những tác động to lớn của biến đổi khí hậu, nên không ngừng quan tâm đến công tác tuyên truyền, vận động nâng cao ý thức cho cán bộ, đảng viên và toàn thể quần chúng nhân dân.

2. Nhìn lại công tác tuyên truyền ứng phó với biến đổi khí hậu ở ĐBSCL trong thời gian qua:

Từ khi Nghị quyết số 24-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 7 khóa XI về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” ban hành. Các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội, các hội quần chúng ở ĐBSCL đã quyết tâm thực hiện tăng cường, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, hình thành ý thức chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đa dạng hóa hình thức, đổi mới nội dung, xác định các đối tượng ưu tiên tuyên truyền,…

Vì vậy, công tác tuyên truyền về ứng phó với biến đổi khí hậu ở ĐBSCL đã được triển khai tương đối toàn diện, rộng khắp và đạt được những kết quả bước đầu khá tích cực.

Thứ nhất, việc xác định chủ thể tuyên truyền ngày càng đầy đủ và đa dạng hơn. Phải khẳng định rằng, công tác tuyên truyền phải đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, trước hết đó là các tỉnh ủy, thành ủy ở khu vực ĐBSCL.  Tỉnh ủy, thành ủy lãnh đạo chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội tham gia tuyên truyền về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Trong đó, vai trò chủ lực thuộc về các cơ quan như ban tuyên giáo, báo chí của Đảng ở Tỉnh, ngành thông tin và truyền thông, ngành tài nguyên và môi trường.

Bên cạnh đó, các tổ chức phi chính phủ đóng trên đị bàn, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng cùng tham gia tuyên truyền về ứng phó với biến đổi khí hậu.

Thứ hai, nội dung tuyên truyền được xác định ngày càng phong phú.

Tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, của Nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu. Đây được xác định là nội dung cốt lõi và quan trọng nhất nên các cấp ủy đảng triển khai đến tất cả các đảng viên, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị –xã hội triển khai đến các thành viên, hội viên và cộng đồng dân cư trong toàn vùng.

Ngoài ra, một số nội dung cũng được chú ý tuyên truyền rộng rãi như: thông tin, tuyên truyền về các kịch bản biến đổi khí hậu và các hệ quả của nó ở Việt Nam cũng như trên thế giới tác động đến ĐBSCL; tuyên truyền về các kết quả nghiên cứu khoa học, các dự báo, cảnh báo liên quan đến biến đổi khí hậu; thông tin về các chương trình, dự án ứng phó với biến đổi khí hậu; phản ánh các vi phạm trong chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu của các tổ chức, cá nhân; biểu dương những điển hình trong công tác bảo vệ môi trường, thông tin về những mô hình ứng phó với biến đổi khí hậu sáng tạo trong sản xuất và đời sống của người dân trong vùng.

Thứ ba, các hình thức tuyên truyền được sử dụng khá đa dạng. Vai trò chủ lực thuộc các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ quan truyền thông, các mạng xã hội do thế mạnh của việc thông tin phát tán nhanh chóng đến các nhóm công chúng trên nền tảng tiến bộ của công nghệ thông tin, truyền thông. Ở vùng ĐBSCL, chủ yếu dựa vào các phương tiện truyền thông như: tivi, loa phát thanh, radio và internet.

 Để nâng cao nhận thức cho cộng đồng, các tầng lớp trong xã hội, chính quyền chủ động hơn trong tuyên truyền ứng phó với biến đổi khí hậu trong hệ thống giáo dục và đào tạo từ mầm non đến đại học. Một số địa phương lồng ghép vào chương trình học tập của học sinh như tại Bến Tre,  đã lồng ghép nội dung biến đổi khí hậu vào lĩnh vực giáo dục, các trường học trong toàn tỉnh đã tích hợp biến đổi khí hậu vào môn học phù hợp (Sinh học, Địa lý) để phổ biến đến học sinh cấp Trung học phổ thông, Trung học cơ sở. Thông tin, kiến thức cơ bản về biến đổi khí hậu đã được đưa vào nội dung các lớp đào tạo quản lý nhà nước ngạch chuyên viên, đào tạo chính trị. Tổ chức cuộc thi thiết kế nhà thân thiện môi trường thích ứng biến đổi khí hậu.

Tại Bến Tre, từ 2016 đến 2018 Đài truyền hình Bến Tre, Báo Đồng khởi thực hiện khoảng 150 tin, 40 bài, 50 chuyên mục có liên quan biến đổi khí hậu; 40 bài viết, 30 bảng pano truyền thông ngoài trời, 1.747 tờ áp phích, 15.000 tờ bướm 7.000 tài liệu, 42 lớp tập huấn; hơn 313 lớp tập huấn cho 6.615 nông dân về thích ứng hạn mặn; 9.830 sổ tay canh tác thích ứng điều kiện biến đổi khí hậu.[1]

Ngoài ra, còn có hình thức tuyên truyền miệng, tổ chức các diễn đàn như diễn đàn Mê Kông Connect 2017, hội nghị “chuyển đổi mô hình phát triển bền vững ĐBSSCL thích ứng với biến đổi khí hậu”, triển lãm, tọa đàm, câu lạc bộ, tuyên truyền qua hoạt động của đội ngũ cộng tác viên, tình nguyện viên đối với từng vùng, miền và các cộng đồng cụ thể…

Thứ tư, về phương pháp tuyên truyền, thông qua việc học tập nghị quyết, sinh hoạt đảng, sinh hoạt hội, chi hội. Mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ, hộ viên và quần chúng. Tại Cần Thơ, đã chủ động xây dựng các bộ tài liệu tuyên tuyền ứng phó BĐKH chuẩn cho các thành phần: cộng đồng dân cư, công chức địa phương, công chức thành phố, lãnh đạo đầu ngành, giáo viên, giảng viên và học sinh, sinh viên các cấp. Định kỳ có các chuyên mục, chương trình thông tin các hoạt động biến đổi khí hậu, tác hại và kết quả ứng phó trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đưa nội dung tuyên truyền nâng cao nhận thức ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường bắt buộc vào chương trình đào tạo công chức, chuyên viên các cấp.

Hợp tác với các Viện, Trường Đại học, trong đó gắn kết với Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu (Viện Dragon) của Trường Đại học Cần Thơ để đào tạo, tập huấn cho công chức, viên chức của các sở, ban ngành, quận, huyện của thành phố Cần Thơ, đặc biệt là công chức, viên chức chuyên trách về công tác ứng phó biến đổi khí hậu[2].

Tại một số tỉnh còn mở rộng tuyên truyền đến các đối tượng như các chức sắc, tôn giáo, tín đồ. Riêng tại Bến Tre, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Bến Tre  cùng các Tổ chức tôn giáo tích cực tuyên truyền ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường. Khoảng 100 chức sắc, tín đồ tôn giáo tham dự tập huấn; phát hành 3000 tờ rơi và triển khai thí điểm mô hình cộng đồng tôn giáo bảo vệ môi trường ứng phó biến đổi khí hậu tại xã Vĩnh Bình huyện Chợ Lách và xã Mỹ Thạnh huyện Ba Tri.[3]

Bên cạnh đó, các phương tiện thông tin đại chúng còn sử dụng rộng rãi những sự việc, hiện tượng điển hình trong đời sống thực tế ở địa phương, cơ sở, đưa ra các kiểu hành vi, lối sống tôn trọng, bảo vệ môi trường, từ đó tác động đến người dân, giúp họ hình thành những hành vi, lối sống phù hợp theo gương điển hình. Ngoài ra, các phương pháp tuyên truyền khác cũng được sử dụng tích cực như pano, áp phích, khẩu hiệu cổ động,…

Việc xác định đúng đắn tầm quan trọng của công tác tuyên truyền về ứng phó với biến đổi khí hậu, khu vực ĐBSCL đã triển khai phù hợp các nội dung, hình thức và phương pháp tuyên truyền với mục đích làm nâng cao nhận thức cho người dân về ứng phó với biến đổi khí hậu. Từ thay đổi nhận thức đến thay đổi hành vi, người dân đã bước đầu thay đổi thói quen, cách thức làm ăn, sản xuất , sinh sống theo hướng thân thiện hơn với môi trường. Người dân cũng tích cực hơn trong việc tham gia bảo vệ môi trường, giám sát, phát hiện, tố cáo các hoạt động vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

Bên cạnh những kết quả đạt được, tuyên truyền về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thời gian qua cũng bộc lộ những hạn chế cần khắc phục:

Một là, một số tỉnh ủy và nhiều cấp ủy trực thuộc còn biểu hiện tính hành chính, chưa thật sự coi trọng và phát huy đầy đủ sức mạnh của công tác tuyên truyền, vận động thuyết phục nhân dân trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ cách mạng. Chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết, quyết định của tỉnh ủy về ứng phó với biến đổi khí hậu nhìn chung còn thấp, có biểu hiện qua loa. Thời gian dành cho việc học tập, quán triệt các nghị quyết, quyết định ở nhiều nơi, có xu hướng giảm dần từ tỉnh xuống cơ sở.

Do tuyên truyền còn yếu kém nên đa số người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long chưa nhận thức hết hậu quả của biến đồi khí hậu, nên vẫn còn tư tưởng ỷ lại vào thiên nhiên. Người dân chỉ nghĩ đến những lợi ích trước mắt sẵn sàng hủy hoại môi trường sinh thái tự nhiên. Nhũng kịch bản biến đổi khí hậu của vùng ít được người dân quan tâm. Tại Thành phố Cần Thơ, theo đánh giá nhận thức của người dân còn mơ hồ lẫn lộn giữa các nguy cơ do phát triển thiếu bền vững và nguy cơ do biến đổi khí hậu. Theo khảo sát một số doanh nghiệp còn tồn tại quan điểm cho là hoạt động ứng phó chỉ đơn thuần là hoạt động xã hội không thể kinh doanh sinh lợi[4]. Vì vậy, sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu chưa rộng rãi trong cộng đồng dân cư trong toàn vùng. Các mô hình cộng đồng ứng phó với biến đổi khí hậu còn ít, chưa đảm bảo tính dài hạn và hiệu quả chưa cao.

Hai là, hình thức tuyên truyền không đa dạng, nội dung tuyên truyền chưa phong phú nên chưa tạo sự quan tâm chú ý cần thiết từ cộng đồng. Do đặc điểm điều kiện ở ĐBSCL còn hạn chế nên phương tiện truyền thông ở nơi đây còn rất thiếu, người dân chủ yếu tiếp cận thông tin qua nghe radio, xem tivi, một bộ phận giới trẻ tiếp cận qua internet. Phần lớn người dân trong vùng làm nghề nông, nên họ không có thời gian để xem và nghe tin tức trên phương tiện truyền thông. Chính đặc điểm này cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu.

Ba là, nhận thức của chủ thể tuyên truyền còn phiến diện, thấy mặt tiêu cực mà không thấy những thời cơ, cơ hội mang lại cho sự phát triển của vùng.

Tư tưởng của đa số người làm công tác tuyên truyền đặt nặng mặt tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu mà bỏ qua yếu tố tích cực biến đổi khí hậu có thể mang lại cho cuộc sống người dân những cơ hội, sinh kế mới. Tuyên truyền cho người dân chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu bằng những việc làm cụ thể, thay đổi tư duy sản xuất cũ, lạc hậu, tập quán sinh hoạt…

3. Một số biện pháp khắc phục hạn chế trong công tác tuyên truyền ứng phó với biến đổi khí hậu ở ĐBSCL trong thời gian tới.

Thứ nhất, cần kiện toàn, nâng co chất lượng các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội.

Trước tiên cần phải kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội đáp ứng yêu cầu tham gia vào ứng phó với biến đổi khí hậu ở địa phương.

Xây dựng và thực hiện cơ chế, chính sách thu hút  nhân lực chất lượng cao tham gia vào quá trình ứng phó với biến đổi khí hậu.

Để thu hút nhân tài, lao động  kỹ thuật trình độ cao tham gia vào ứng phó với biến đổi khí hậu cần xây dựng cơ chế chính sách nhằm khuyến khích về vật chất và tinh thần của họ. Khuyến khích giới trẻ đầu tư “chất xám” tạo sản phẩm khoa học chất lượng cao cho thị trường trong tỉnh, trong nước và đón bắt xu hướng hội nhập, nhất là ưu tiên khuyến khích những sản phẩm, những phát minh công nghiệp xanh, thân thiện môi trường.

Thứ hai, các địa phương trong vùng ĐBSCL cần chủ động phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan liên quan đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho các cấp chính quyền và người dân nhận thức đầy đủ, chính xác các thách thức đang đặt ra đối với đồng bằng sông Cửu Long và từng địa phương trong vùng; chủ động trong thích ứng với biến đổi khí hậu và các tác động khác từ thượng nguồn, kêu gọi huy động nguồn lực nhằm bảo vệ, phục hồi và trồng mới rừng, nhất là hệ thống rừng phòng hộ, rừng ngập mặn ven biển, ven sông.

Thứ ba, đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức công tác tuyên truyền ứng phó với biến đổi khí hậu của các cơ quan làm công tác tuyên truyền. Lựa chọn nội dung tuyên truyền phù hợp với đối tượng, tránh tuyên truyền chung chung. Đối với cán bộ, công chức cần cung cấp những nội dung tổng thể, tòan diện để họ trở thành những tuyên truyền viên truyền đạt những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước đến với mọi tầng lớp nhân dân. Đối với thanh niên, doanh nghiệp cần tuyên truyền cho họ thấy trách nhiệm của mình đối với cộng đồng. Đối với người dân, nội dung tuyên truyền phải cụ thể, gắn liền với cuộc sống hàng ngày, từ đó làm chuyển biến nhận thức về ứng phó với biến đổi khí hậu. Một điều cần lưu ý, việc lựa chọn cung giờ để truyên truyền trên các phương tiện truyền thông cũng góp phần không nhỏ vào hiệu quả công tác tuyên truyền

Thứ tư, bên cạnh tuyên truyền thích ứng với biến đổi khí hậu, cần vận động khuyến khích người dân giữ gìn những nét văn hóa đặc sắc của vùng sông nước, như văn hóa miệt vườn, văn hóa ẩm thực, văn hóa sông nước… đây là những nét văn hóa tự nhiên gắn liền với môi trường sinh thái, vì vậy có điều kiện phát triển du lịch sinh thái gắn với văn hóa cộng đồng vùng đồng bằng sông Cửu Long. Kết hợp tuyên truyền trên các phương tiện thông tin, cần đẩy mạnh các buổi tuyên truyền  lồng ghép với các hoạt động văn hóa, văn nghệ của cộng đồng khu vực ĐBSCL nhằm giới thiệu, quảng bá hình ảnh khu vực này với bạn bè các nước trong khu vực và trên thế giới.

Thứ năm, kịp thời động viên, khen thưởng những  tổ chức cá nhân có đóng góp tích cực trong tuyên truyền ứng phó với biến đổi khí hậu. Đảm bảo nguyên tắc của công tác khen thưởng là tính kịp thời nhằm động viên, khích lệ ngay các tập thể, cá nhân xứng đáng được ghi nhận, biểu dương, tôn vinh. Việc khen thưởng kịp thời còn tạo động lực thúc đẩy, cổ vũ các tập thể, cá nhân khác phấn đấu để được ghi nhận, biểu dương có đóng góp cho công tác tuyên truyền ứng phó với biến đổi khí hậu.

Trước những diễn biến bất thường của biến đổi khí hậu, đã ảnh hưởng không nhỏ đến ĐBSCL, để ứng phó với những tác động tiêu cực rất cần sự chung tay của cộng đồng, doanh nghiệp trong và ngoài nước. Hơn lúc nào hết, công tác tuyên truyền ứng phó với biến đổi khí hậu phải đặt lên hàng đầu nhằm thay đổi nhận thức của người dân vùng ĐBSCL. Mặt khác, qua công tác tuyên truyền nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực môi trường, giới thiệu và kêu gọi bạn bè quốc tế giúp đỡ nhằm bảo vệ ĐBSCL trước tác dộng của biến đổi khí hậu. Với niềm tin mãnh liệt, ĐBSCL sẽ vượt qua mọi trở ngại của biến đổi khí hậu, tận dụng mọi thời cơ, cơ hội phát triển mà vùng ĐBSCL có được, tạo điều kiện cho cả vùng thoát khỏi tình trạng kém phát triển, hướng đến sự phát triển kinh tế bền vững, hiện đại và hội nhập cùng sự phát triển chung của cả nước./.

NCS. BÙI VĂN DE

Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

                                           (Trường Chính trị Đồng Tháp)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3 tháng 6 năm 2013 của BCH TW khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
  2. Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.
  3. Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 – 2030 của UBND Thành phố Cần Thơ.
  4. Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường của Tỉnh ủy Đồng Tháp.
  5. Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường của Tỉnh ủy Long An.
  6. Báo cáo tổng kết chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2010 – 2015 của Ủy ban nhân nhân tỉnh Kiên Giang.
  7. Báo cáo sơ kết giữa nhiệm kỳ công tác ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016 – 2018.

[1] Báo cáo sơ kết giữa nhiệm kỳ công tác ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016 – 2018.

[2] Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 – 2030 của UBND Thành phố Cần Thơ.

[3] Báo cáo sơ kết giữa nhiệm kỳ công tác ứng phó biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016 – 2018.

[4]  Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2015 – 2030 của UBND Thành phố Cần Thơ.

Recommended For You