Bảo vệ môi trường: Vấn đề trọng tâm trong sự lãnh đạo của Đảng

Phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường là nội dung quan trọng của vấn đề phát triển bền vững. Với tư cách là lực lượng tiên phong lãnh đạo xã hội, cả về thực tiễn và lý luận, Đảng ta đã dành sự quan tâm đặc biệt cho vấn đề này.

Quan điểm, chủ trương của Đại hội XII của Đảng về vấn đề bảo vệ môi trường có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn.

Ảnh: dangcongsan.vn

“Phát triển bền vững”,”Phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường”… là quan điểm cách mạng đúng đắn mà Đảng ta đã kiên trì theo đuổi và thực hiện trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là trong giai đoạn đổi mới vừa qua. Nhận thức rất rõ vai trò của môi trường và bảo vệ môi trường, nước ta đã tích cực tham gia các Công ước, các thỏa thuận quốc tế về môi trường. Có thể kể tới như: Công ước đa dạng sinh học (5/1993) có mục tiêu chính là nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng bền vững các thành phần của đa dạng sinh học và chia sẻ công bằng, hợp lý những lợi ích thu được từ việc sử dụng tài nguyên sinh học; Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu (11/1994) có mục tiêu ổn định các nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu; Nghị định thư Kyoto (9/2002) buộc các nước tham gia phải cam kết đạt được các mục tiêu về thải khí nhà kính được xác định cụ thể cho từng nước; hay Công ước Viên về bảo vệ tầng ô zôn (1994); Thỏa thuận Paris về chống biến đổi khí hậu… Nhìn chung các văn bản quốc tế đó đều khẳng định tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và yêu cầu các nước tham gia có trách nhiệm hơn trong hoạt động bảo vệ môi trường. Việt Nam đã tham gia ký kết hầu hết các văn bản pháp lý quốc tế về bảo vệ môi trường, Tiêu biểu như: Công ước đa dạng sinh học; Công ước di sản; Công ước Ramsar; các Công ước MARPOL, SOLAS, COLREG… Đặc biệt ngày 23/6/1994, Việt Nam đã tham gia ký Công ước Luật biển 1982.

Đến nay, Nhà nước đã hai lần ban hành Luật Bảo vệ môi trường vào năm 2005 và 2014 cùng với một số’ Nghị định về xử phạt vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như Nghị định 179/2013/nĐ-CP, Nghị định 18/2015/NĐ-CP… Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam (năm 2005) đã dành bốn điều quy định về Bảo vệ môi trường biển (từ điều 55 đến 58). Cụ thể hóa các quy định của Luật Bảo vệ môi trường, ngày 6/3/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số’ 25/2009/NĐ-CP về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo…

Hội nghị Trung ương 4 khóa X (2/2007) ra Nghị quyết số’ 09-NQ/TW về “Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó xác định: “Phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển… làm cho đất nước giàu mạnh từ biển, bảo vệ môi trường biển”. Sau khi Quốc hội thông qua và ban hành Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/ QH13 bao gồm một số’ điều sửa đổi, bổ sung ngày 23 tháng 06 năm 2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số’ 19/2015/NĐ- CP ngày 14 tháng 02 năm 2015, quy định chi tiết thi hành một số’ điều của Luật. Cùng ngày, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số’ 18/2015/NĐ-CP, quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.

Những văn bản trên cùng với những văn bản liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường còn hiệu lực đã tạo thành hệ thống pháp lý vững chắc, thể chế hóa quan điểm của Đảng ta trong các nghị quyết Đại hội Đảng và các hội nghị Trung ương trước đó.

Nhờ đó, trong thời kỳ đổi mới, công tác bảo vệ môi trường đã đạt được những kết quả quan trọng, như Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đánh giá: “Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu tiếp tục được hoàn thiện. Công tác kiểm tra, thanh tra việc thực thi và xử lý vi phạm được chú trọng. Việc quản lý, sử dụng đất đai, nguồn nước, khoáng sản chặt chẽ và hiệu quả hơn. Công tác điều tra cơ bản, đánh giá tiềm năng, trữ lượng, định giá tài nguyên có bước tiến bộ; khai thác, sử dụng phù hợp hơn theo cơ chế thị trường và được giám sát chặt chẽ hơn. Quan tâm khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo và vật liệu thay thế, thân thiện với môi trường. Các biện pháp bảo vệ môi trường, phòng ngừa và xử lý cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng được tích cực thực hiện. Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải nguy hại đạt khoảng 75%; chất thải rắn y tế đạt 80%; tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý đạt 90% vào năm 2015. Quan tâm bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ và phát triển rừng; tỷ lệ che phủ rừng tăng, đạt khoảng 40,7% vào năm 2015. Tỷ lệ dân số’ thành thị sử dụng nước sạch đạt 82%, tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 86% vào năm 2015. Phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai được chú trọng, đạt nhiều kết quả. Năng lực cảnh báo, dự báo thiên tai được tăng cường, chất lượng có bước được nâng lên. Nhiều dự án ứng phó với biến đổi khí hậu kết hợp phòng, chống thiên tai được triển khai, tranh thủ được sự hợp tác, hỗ trợ của nhiều đối tác”. Đây là những kết quả thiết thực, đáng khích lệ trong công tác bảo vệ môi trường, nhất là trong bối cảnh ô nhiễm môi trường đang đặc biệt nghiêm trọng hiện nay.

Tuy nhiên, khi nhìn vào thực tế môi trường nước ta hiện nay, Nghị quyết Đại hội XII thẳng thắn thừa nhận: “Quản lý nhà nước về tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu nhiều mặt còn hạn chế; pháp luật, chính sách thiếu đồng bộ; thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm chưa nghiêm (…). Tình trạng ô nhiễm môi trường chậm được cải thiện; ô nhiễm môi trường ở nhiều nơi còn nghiêm trọng, nhất là tại một số làng nghề, lưu vực sông; xử lý vi phạm môi trường chưa nghiêm. Ý thức bảo vệ môi trường của một bộ phận người dân và doanh nghiệp chưa cao. Nhiều hệ sinh thái tự nhiên, nhất là hệ sinh thái rừng, đất ngập nước, thảm thực vật biển giảm cả về diện tích và chất lượng. Công tác bảo vệ rừng còn bất cập, tình trạng chặt phá và cháy rừng còn xảy ra. Nhiều loài sinh vật, nguồn gen quý đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao. Việc khắc phục hậu quả về ô nhiễm môi trường do chiến tranh để lại còn nhiều khó khăn… Sử dụng năng lượng tái tạo (điện sinh khối, điện gió, điện mặt trời,…) còn ít”. Đây là hạn chế, yếu kém cần nhanh chóng khắc phục.

“Hãy làm sạch biển” là chiến dịch xuất sắc của năm 2016, đã và đang truyền tải đến cộng đồng giá trị nhân văn sâu sắc, một thông điệp tuyệt vời về bảo vệ môi trường sống.

Hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã có một diện mạo hoàn toàn mới. Từ một đất nước bị chiến tranh và khủng hoảng kinh tế triền miên tàn phá, kinh tế xã hội Việt Nam đã vươn lên và trở thành một quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế trung bình 6,5%/năm và thuộc vào nhóm nước có tốc độ phát triển mạnh nhất khu vực. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế nhanh lại đi liền nguy cơ ô nhiễm môi trường lại đang là tác nhân đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước. Những sự cố’ như ô nhiễm môi trường biển do Công ty TNHH Thép Hưng Nghiệp Formosa gây ra tại khu vực biển miền Trung, những vụ cố’ tình vi phạm Luật Môi trường xả thải trực tiếp ra môi trường như của Nhà máy bột ngọt Vedan và một số’ cơ sở công nghiệp khác đang gióng lên hổi chuông báo động về hiện tượng “phát triển kinh tế bất chấp môi trường sống” của các chủ thể kinh tế.

Từ việc đánh giá thành tựu, hạn chế trong công tác bảo vệ môi trường, Đại hội XII của Đảng đề ra phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể để phát triển kinh tế – xã hội trong 5 năm tới. Đó là: “Phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu; phát triển kinh tế tri thức, kinh tế xanh. Phát triển kinh tế phải gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu”.

Mục tiêu tổng quát cho phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường trong thời gian tới là “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường”. Từ mục tiêu đó, Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh đến phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường biển. “Đẩy nhanh điều tra cơ bản về tài nguyên môi trường biển, đảo. Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong việc khai thác hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên biển”. Trước thực trạng môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, thiên tai, biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và đời sống nhân dân, để bảo vệ môi trường hiệu quả, Đại hội XII chỉ rõ “Ưu tiên đầu tư các dự án hạ tầng đáp ứng yêu cầu ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Từng bước hình thành hệ thống đô thị có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, xanh, thân thiện với môi trường, nhất là các đô thị lớn. Nâng cao chất lượng và quản lý tốt quy hoạch đô thị, bảo đảm phát triển bền vững, có chính sách xây dựng khu đô thị mới ven các đô thị lớn, khai thác hiệu quả hạ tầng và tiết kiệm đất”.

“Tăng cường quản lý nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và thực hiện đồng bộ các giải pháp chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các vi phạm; đồng thời tăng cường thông tin truyền thông nhằm nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của người dân”.

Trong hoạt động bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai thì công tác dự báo, cảnh báo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Do đó, Đại hội XII chỉ rõ phải “Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, giám sát biến đổi khí hậu. Đề cao trách nhiệm của các ngành, các cấp, các lực lượng vũ trang; phát huy vai trò của cộng đồng, của doanh nghiệp và tăng cường hợp tác quốc tế, thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu và tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ. Nâng cao khả năng chống chịu; huy động nguồn lực đầu tư các công trình, dự án ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai; phòng, chống ngập úng đô thị. Kịp thời di dời đồng bào ra khỏi khu vực bị sạt lở”.

Khắc phục tình trạng khai thác quá mức và sử dụng tài nguyên thiên nhiên chưa hợp lý, gây lãng phí lớn, Đảng ta chỉ rõ phải “Khai thác, sử dụng khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường, hạn chế tối đa xuất khẩu nguyên liệu thô… Khai thác và sử dụng bền vững nguồn nước…”, không vì lợi ích trước mắt mà hủy hoại môi trường, lãng phí tài nguyên.

Việc bảo vệ môi trường là cần thiết và cấp bách, đòi hỏi cần xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để cải thiện tình trạng này; có chế tài xử phạt mạnh để răn đe các hành vi gây ô nhiễm môi trường. Đây là vấn đề đòi hỏi sự chung tay của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đảng ta chỉ rõ, cần tập trung “Cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của người dân. Thực hiện xã hội hóa công tác bảo vệ và xử lý môi trường”; “Kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm. Khắc phục có hiệu quả ô nhiễm môi trường do chiến tranh để lại. Quy hoạch và xây dựng các công trình xử lý rác thải tập trung theo vùng, cụm xã. Hạn chế, tiến tới ngăn chặn căn bản tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, lưu vực sông, khu và cụm công nghiệp, khu đô thị và khu dân cư tập trung ở nông thôn. Tập trung xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng. Kiểm soát chất lượng không khí ở khu vực đô thị có mật độ dân cư cao. Thực hiện quy chuẩn, tiêu chuẩn phát thải và công nghệ theo lộ trình phù hợp. Tăng cường bảo vệ và phát triển rừng bền vững, nhất là rừng phòng hộ ven biển, rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thuỷ sản. Khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo và các nguyên liệu, vật liệu mới, thân thiện với môi trường”.

Như vậy có thể thấy, quan điểm, chủ trương của Đại hội XII về vấn đề bảo vệ môi trường có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn. Đây là sự kế thừa và phát triển quan điểm bảo vệ môi trường của Đảng qua các thời kỳ. Đảng luôn xác định và đánh giá đúng về tác động của môi trường đối với sự phát triển đất nước. Có thể nói, Đại hội XII của Đảng đã giành nhiều thời lượng để bàn về vấn đề môi trường. Đảng xác định mục tiêu bảo vệ môi trường là mục tiêu hết sức quan trọng, đặt ngang bằng với những mục tiêu về kinh tế, văn hóa, giáo dục, quốc phòng – an ninh.

Đường lối xây dựng, phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng bảo vệ môi trường sống một các toàn diện của Đảng là đúng đắn và phù hợp với quy luật phát triển của nước ta. Những thành tựu của công cuộc đổi mới trong suốt hơn ba thập kỷ qua đã chứng minh cho tính đúng đắn của đường lối đổi mới và sáng tạo đó của Đảng. Là lực lượng lãnh đạo xã hội, Đảng ta tập hợp và đoàn kết toàn dân cùng chung tay góp sức, biến chủ trương về bảo vệ môi trường của Đại hội XII thành hiện thực cuộc sống; tình trạng ô nhiễm môi trường sẽ dần được khắc phục. Trong một tương lai không xa, cùng với đà kinh tế phát triển, môi trường sống ở đất nước ta cũng sẽ cùng sánh vai với những quốc gia có môi trường sống tốt nhất, trong lành nhất trên thế giới. ■

TÔN NỮ





















 

 

 

Recommended For You