Tết đến sớm ở làng tạc tượng Phật Sơn Đồng

Chúng tôi đến làng tạc tượng Phật, đồ thờ cúng Sơn Đồng (Hoài Đức, Hà Nội) vào những ngày cuối năm, tiết xuân đang đến dần, chuẩn bị chào đón một năm mới, những ban thờ, lư hương, tượng Phật… cùng tiếng máy cưa, tiếng đục đẽo chạm khắc râm ran khắp làng trên xóm dưới, không khí làm việc khẩn trương lộ rõ trên nét mặt đăm chiêu của những người nghệ nhân, người thợ khi dốc hết tinh túy của mình để tạo dáng cho từng đường nét trên khuôn mặt những pho tượng, hay sự hối hả hoàn tất bộ đồ thờ cúng cho khách kịp đón Tết.

Nghề truyền thống ở làng Sơn Đồng đã hình thành và phát triển từ khá lâu. Theo sử sách và các cụ cao tuổi trong làng kể lại thì nghề chạm khắc, tạc tượng này đã có hơn 1.000 năm, kể từ khi nền văn hoá Phật giáo được truyền bá vào Việt Nam. Trong thời kỳ phong kiến, làng nghề có hàng trăm người thợ được phong Tước bá hộ kỹ nghệ (nay gọi là nghệ nhân). Các dấu ấn vật thể 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội đều có đôi bàn tay tài hoa của người nghệ nhân Sơn Đồng tham gia như Văn miếu Quốc Tử Giám, Khuê Văn Các, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, chùa Một Cột…

Hiện nay, sản phẩm của làng nghề mỹ nghệ Sơn Đồng chiếm khoảng trên 50% thị phần toàn quốc về tượng và đồ thờ sơn son thếp vàng, thếp bạc phủ màu hoàng kim, phục vụ mảng đời sống văn hoá tâm linh, tín ngưỡng của người dân. Những người thợ nơi đây, phần lớn được theo ông bà, cha mẹ làm nghề từ bé nên dường như nghề đã thấm vào máu thịt. Với hơn 4000 người thợ lành nghề, trong đó nhiều người đã là nghệ nhân có tên tuổi nên khách có yêu cầu đặt làm bất cứ pho tượng thờ nào thì người thợ nơi đây đều làm được ngay mà không cần mẫu có sẵn. Các pho tượng đều trở nên có hồn qua đôi bàn tay khéo léo của người thợ. Để làm được điều đó, đòi hỏi người thợ phải có kinh nghiệm, hiểu được các điển tích, tính cách, chức vụ, vị trí của từng pho tượng trong tâm thức để rồi thổi hồn vào các tác phẩm.

Xưa kia, nghệ nhân làng Sơn Đồng tự tìm toài, lựa chọn gỗ cho từng sản phẩm. Việc pha gỗ, lựa gỗ đòi hỏi phải thật công phu, tất cả các công đoạn đều phải thực hiện bằng tay. Nhờ vào sự khéo léo của đôi bàn tay tài hoa, những sản phẩm trở nên sinh động, có hồn. Nghề tạc tượng, làm đồ thờ của làng đã không ngừng vươn xa, tiếng tăm khắp vùng. Giờ đây, khi khoa học kỹ thuật phát triển, làng Sơn Đồng đã biết áp dụng máy móc một phần để hỗ trợ cho công việc được chính xác và linh hoạt hơn, giảm bớt sức lao động ở những khâu cơ bản. Tuy nhiên để đạt được sản phẩm ưng ý cả người thợ và khách thì các công đoạn chế tác phải đạt đến một quy trình rất nghiêm ngặt, kỹ lưỡng và toàn tâm, toàn ý với tác phẩm của mình. Mỗi nghệ nhân ở Sơn Đồng cũng có những thủ pháp, những bí truyền riêng không hoàn toàn giống nhau. Theo một nghệ nhân cao tuổi trong làng kể lại rằng, khi đục pho tượng Phật bà Quan Âm ngồi thường là đục bốn diện (khuôn mặt tính từ chân tóc tới cằm gọi là “mặt diện”. Trong giải phẫu tạo hình hiện đại gọi là “một đầu”). Nhưng cũng có khi Phật ngồi chỉ có ba diện rưỡi, hoặc bốn diện rưỡi. Điểm chung giữa các nghệ nhân khi làm tượng là đều lấy diện (bằng một đầu) làm chuẩn để tính tỷ lệ. Tỷ lệ tượng ngồi bằng bốn diện và tượng đứng bằng bảy diện. Ngoài ra, về chiều cao thân tượng thì phải tuân thủ theo một số công thức sau: rộng vai tượng: từ 2 đến 4 diện; dài tay: 3 diện; bề dày thân từ 1,5 đến 2 diện. Công thức đó có xê dịch tùy theo tượng béo hay gầy, tượng nam hay nữ (tượng béo có độ dày thân tượng cao, tượng nam vai rộng hơn tượng nữ)…

Tượng Phật làm bằng gỗ mít, đây là chất liệu duy nhất được phát hiện và tin dùng từ lâu. Gỗ mít có đặc tính dẻo, mềm, thớ dặm, nhờ đó tránh được những sơ suất trong khi đục. Gỗ mít còn có độ bền cao, ít nứt, dễ gọt. Nguyên liệu gỗ mít cũng phải được chọn lựa kỹ càng, từ các tỉnh như Phú Thọ, Thái Nguyên, Thanh Hóa,… Gỗ chở về loại bỏ hết phần giác, chỉ dùng lõi để đục phác thảo những khối mũ (nếu có) rồi trán, mũi, môi, tai… Trên khuôn mặt tượng, người thợ cũng phân chia từng mảng, diện như khoảng cách giữa hai con mắt, từ chân tóc tới chân mày, chiều dài sống mũi, bề rộng cánh mũi, khoảng cách giữa môi trên và môi dưới, từ môi dưới tới cằm, độ dày của môi… Đặc biệt là tai Phật, phải tính đặt cân đối hợp lý trong khoảng cách từ chân tóc (2 bên đầu) tới cằm. Sau khi đục phác lấy dáng chung một lượt suốt từ diện tới bệ, đến khâu đục chi tiết, người thợ cũng thể hiện dần từng bộ phận. Khâu này được coi là quan trọng nhất trong cả quá trình hoàn thành pho tượng. Cuối cùng là khâu gọt, nạo, rồi đánh giấy ráp cho nhẵn. Trong khi gọt, người thợ dùng loại đục dẹt, mỏng để tách các chi tiết, sao cho các mảng các khối (chân tay và các ngón) khỏi “dính” vào nhau, nhất là phải thể hiện kỹ các đường lượn, mảng miếng. Gọt nạo là khâu hoàn chỉnh phân gỗ trước khi chuyển sang phần sơn.

Kỹ thuật sơn son thếp vàng tượng cũng kỳ công như nghệ thuật làm vóc sơn mài. Đầu tiên “hom” tượng bằng sơn trộn đất phù sa (tỷ lệ sao cho không được non sơn, cũng không được già quá) rồi “bó” bằng sơn sống rồi sơn “thí”. Sau mỗi công đoạn đều phải mài tượng bằng đá và nước. Sơn lên rồi lại mài đi, rồi lại sơn lên…, cứ thế, bao giờ thấy bề mặt tượng phẳng nhẵn và mọng lên thì dùng một lớp sơn (gọi là sơn cầm thếp) phủ lên. Để sơn cầm thếp se (sờ tay thấy còn hơi dính) thì dán bạc hoặc dán vàng (bạc, vàng quỳ) tùy theo yêu cầu của khách. Quỳ là một loại bột từ vàng, bạc miết trên một tờ giấy mỏng (giấy quỳ). Người ta đem những lá vàng, lá bạc (loại cao tuổi) dát mỏng cắt thành những mảnh vuông, xếp vào giữa những tờ giấy, rồi dùng búa nện đều cho đến khi vàng tan thành bột. Theo ông Nguyễn Chí Quảng – ở xóm ngã tư, thì để làm xong pho tượng to phải mất 40 công, còn tượng nhỏ khoảng 5-10 công, nguyên liệu để làm tượng, đồ thờ, ngoài gỗ mít còn có gỗ dổi, vàng tâm. Làm tượng là khó nhất, người thợ phải thổi được hồn vào pho tượng, nhìn có dáng, khách trông thấy là nhận ra ngay là ông tượng nào…

Từ những thân gỗ mít, qua bàn tay khéo léo, tài hoa của những người thợ Sơn Đồng, những pho tượng được hình thành như có hồn và trở nên sống động vô cùng.

Thành quả mà những người thợ Sơn Đồng thu được sau bao ngày đêm miệt mài bên xưởng gỗ là tiếng thơm không chỉ vang danh khắp mọi miền tổ quốc, mà còn vang xa tới nhiều quốc gia trên thế giới, nhắc đến tượng Phật là người ta nghĩ ngay đến Sơn Đồng. Với đôi bàn tay tài hoa, những người thợ làng Sơn Đồng đã cho ra đời nhiều tác phẩm nghệ thuật đòi hỏi độ tinh xảo cao như bức tượng Phật bà nghìn tay, nghìn mắt, tượng ông Thiện, ông Ác, tượng La Hán, kiệu bát cống… Đi đến đâu trong cả nước, du khách đều bắt gặp các tượng thờ do người thợ Sơn Đồng chế tác. Một nghệ nhân cao niên tự hào là người đã tạc được hàng trăm pho tượng có giá trị cung cấp cho các chùa Quán Sứ, Liên Phái, Trấn Quốc, Hương Ký (Hà Nội), chùa Hương, chùa Trăm Gian (Hà Tây cũ) và nhiều chùa khác trên mọi miền tổ quốc. Cũng có những người thợ trẻ đã mạnh dạn làm các bức tượng cao từ 3,5m – 4,5m, đây là một kỷ lục mà trước đó chưa ai làm. Tiếp nối truyền thống cha ông, song các thợ trẻ cũng biết sáng tạo, đổi mới cho phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Những lớp thợ trẻ giờ đây không chỉ kế thừa những nét tài hoa về tay nghề, mà còn rất năng động trong cơ chế thị trường.

Sản phẩm của làng nghề Sơn Đồng đã xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới, khách ngoại quốc và kiều bào đã đặt những sản phẩm phục vụ đời sống văn hoá tâm linh, tín ngưỡng. Qua thăng trầm thời gian, làng nghề Sơn Đồng đã tồn tại nghìn năm tuổi. Để tưởng nhớ tổ nghề và gìn giữ tiếng thơm nghề cho các thế hệ sau, người dân Sơn Đông đã lấy ngày 6/2 âm lịch hàng năm là ngày hội làng, con cháu ở khắp nơi về sum họp, tế lễ thành hoàng làng và ôn lại những giá trị mà cha ông đã gây dựng, thật đáng tự hào.

TƯỜNG VÂN