Chăn nuôi không ô nhiễm hướng đi mới của của ngành công nghiệp bền vững

Hiện nay, ô nhiễm môi trường không còn là vấn đề của một quốc gia hay một khu vực mà đã trở thành vấn đề toàn cầu. Một trong các nguồn gây ô nhiễm môi trường đáng quan tâm hiện nay là do hoạt động sản xuất nông nghiệp, và chăn nuôi. Vậy làm sao để đưa ngành nông nghiệp, chăn nuôi ngày càng phát triển mà không ảnh hưởng đến môi trường. Đó là một thách thức và cũng là một hướng đi mới cần phải lựa chọn trong phát triển bền vững.

Thực trạng ô nhiễm môi trường từ hoạt động chăn nuôi

Phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn là một trong những mục tiêu được Đảng và Nhà nước hết sức chú trọng, trong đó có phát triển kinh tế hộ gia đình thông qua các hoạt động sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển và gây ảnh hưởng nhiều đến môi trường khu vực nông thôn. Việt Nam với khoảng 73% dân số sống ở vùng nông thôn, chăn nuôi là hoạt động quan trọng đối với nông dân và nông, góp phần nâng cải thiện sinh kế, cung cấp thực phẩm trứng, thịt sữa tiêu dùng.

Những năm qua, chăn nuôi có sự tăng trưởng nhanh cả về quy mô và giá trị. Bên cạnh lợi ích kinh tế mang lại, thì chăn nuôi cũng đang nảy sinh rất nhiều vấn đề về chất lượng môi trường, đe dọa sức khỏe của cộng đồng dân cư địa phương và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ sinh thái tự nhiên.

Theo Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2014, cả nước hiện có 8,5 triệu hộ chăn nuôi quy mô gia đình, 18.000 trang trại chăn nuôi tập trung quy mô lớn. Đàn lợn nước ta có khoảng 26,76 triệu con, đàn trâu bò khoảng 7,75 triệu con, đàn gia cầm khoảng 327,69 triệu con. Trong đó chăn nuôi nông hộ hiện tại vẫn chiếm tỷ trọng khoảng 65-70% về số’ lượng và sản lượng. Từ số’ đầu gia súc, gia cầm đó có quy đổi được lượng chất thải rắn (phân chất độn chuồng, các loại thức ăn thừa hoặc rơi vãi) của đàn gia súc, gia cầm thải ra khoảng trên 76 triệu tấn, và khoảng trên 30 triệu khối chất thải lỏng (nước tiểu, nước rửa chuồng, nước từ sân chơi, bãi vận động, bãi chăn).

Phân của vật nuôi chứa nhiều chất chứa nitơ, phốt pho, kẽm, đồng, chì, Asen, Niken (kim loại nặng)… Mặc dù có lượng phát sinh chất thải lớn nhưng mới chỉ có 8,7% hộ chăn nuôi có sử dụng hầm khí sinh học, tổng lượng chất thải rắn chăn nuôi được xử lý chiếm chưa đầy 10%. Kết quả khảo sát của Viện Môi trường Nông nghiệp cũng cho thấy chỉ có 10% chuồng trại chăn nuôi của bà con đạt yêu cầu về vệ sinh và chỉ 0,6% số’ hộ chăn nuôi có cam kết bảo vệ môi trường và còn nhiều hộ, ước tính trên 40% không áp dụng bất kỳ hình
thức hoặc phương pháp xử lý chất thải nào trong chăn nuôi.

Theo dự báo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, với tốc độ phát triển mạnh của ngành Chăn nuôi như hiện nay dự tính đến năm 2020, lượng chất thải rắn trong chăn nuôi phát sinh khoảng gần 1.212.000 tấn/ năm, tăng 14,05% so với năm 2010.

Đề cập đến vấn đề này, ông Đinh Vũ Thanh – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và Môi trường, đã đưa ra nhận định trong “Hội nghị tổng kết công tác Bảo vệ môi trường nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng giai đoạn 2016 – 2020” tại Hà Nội trong tháng 10/2015: “Trong lĩnh vực chăn nuôi, khối lượng chất thải rắn của vật nuôi trong năm 2014 hơn 82 triệu tấn, trong đó chỉ khoảng 60% số chất thải được xử lý, còn lại thường được xả trực tiếp ra môi trường”.

Việc chăn nuôi quy mô nhỏ, không tận dụng và xử lý chất thải sẽ gây hậu quả xấu về môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. cụ thể:

– Chất thải chăn nuôi thải ra các ao hồ, kênh mương hoặc đường thoát nước sẽ gây tắc nghẽn dòng chảy, bốc mùi và gây ô nhiễm nước mặt, nước ngầm, không khí, đất và các sản phẩm nông nghiệp khác. Khi mức độ ô nhiễm cao sẽ gây ra nhiều căn bệnh về hô hấp, tiêu hóa, ngoài da và gây cảm giác rất khó chịu, ảnh hưởng đến tình làng nghĩa xóm, xáo trộn các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của bà con.

Tiêu hủy gia cầm bị H5N1 để phòng tránh lây sang người.  Ảnh: Báo Bà Rịa – Vũng Tàu

Chất thải chăn nuôi, nhất là ở các vùng có dịch bệnh, các khu giết mổ tập trung còn chứa nhiều loại vi sinh vật gây bệnh như e-coli, salmonella gây bệnh tiêu chảy, đường ruột, các loại giun, sán gây bệnh, các loại vi-rút như H5N1, vi-rút gây bệnh tai xanh ở lợn,..Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và nhiều nhà khoa học ở Việt Nam đã cảnh báo rằng nếu không có biện pháp thu gom và xử lý chất thải chăn nuôi hợp lý và thỏa đáng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng, bùng phát dịch bệnh trên vật nuôi, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và gây tổn hại đến sức khoẻ con người. Đặc biệt là các virus biến thể nguy hiểm như vi-rút H5N1, vi-rút lở mồm long móng, vi-rút gây bệnh tai xanh ở lợn tồn tại trong chất thải và môi trường có thể lây lan nhanh chóng gây bùng phát dịch bệnh không chỉ làm chết vật nuôi mà còn đe dọa đến sinh mạng của loài người.

Thực tế ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Viện Chăn nuôi Quốc gia cũng cho thấy nồng độ khí H2S và NH3 trong chất thải chăn nuôi cao hơn mức cho phép khoảng 30-40 lần. Hiện trạng môi trường xung quanh các khu vực chăn nuôi bị ô nhiễm nghiêm trọng, gây nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất, sinh hoạt và tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng không chỉ ở khu vực chăn nuôi mà còn lan rộng ra cả các khu vực phụ cận.

Để ngành chăn nuôi tiếp tục phát triển theo hướng bền vững ít ảnh hưởng đến môi trường, nhất là chăn nuôi quy mô hộ gia đình thì cần có sự thay đổi, ứng dụng công nghệ mới trong chăn nuôi song song với việc xây dựng các hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi.

Hai giải pháp được dùng trong chăn nuôi để đưa ngành chăn nuôi nước ta phát triển theo hướng thân thiện với môi trường hiện nay gồm có:

1.Sử dụng chế phẩm sinh học để xử lý chất thải chăn nuôi.

Việc sử dụng CPSH trong chăn nuôi gia súc, gia cầm đang được sử dụng rộng rãi ở nhiều địa phương. Khuyến cáo của các nhà khoa học cho thấy, việc sử dụng CPSH trong chăn nuôi heo sẽ giúp tăng tỷ lệ nạc hóa đàn vật nuôi vượt ngưỡng 50%; đồng thời giải quyết tốt môi trường chăn nuôi vốn được xem là khâu khó khăn phức tạp, nhất là tại các vùng ven các khu đô thị để tạo ra những sản phẩm an toàn chất lượng.

Một trong các biện pháp sử dụng chế phẩm sinh học xử lý chất thải trong chăn nuôi là dùng đệm lót sinh học. Đó là đệm lót trên nền chuồng chăn nuôi mà chủ yếu sử dụng là mùn cưa hoặc trấu. Mùn này sẽ được rải lên nền chuồng, sau đó kết hợp với một lớp men vi sinh vật có ích theo tỉ lệ 3:1 và sử dụng thêm 1,2 lít nước để’ làm ướt lớp men. Hệ men này có tác dụng chủ yếu như: phân giải phân, nước tiểu do vật nuôi thải ra, hạn chế sinh khí hôi, thối; ức chế và tiêu diệt sự phát triển của hệ vi sinh vật có hại, khống chế sự lên men sinh khí hôi thối; phân giải một phần mùn cưa; giữ ấm cho vật nuôi. Thông thường, các đệm lót lúc mới có sẽ là màu vàng, khi đã được vài tháng sẽ chuyển sang màu đen và lúc nào cũng có hiện tượng lên men vi sinh vật.

Các vi sinh vật có ích trong lớp đệm lót sẽ bám quanh phân và tiết ra các enzyme ngoại bào để thực hiện quá trình phân giải tạo năng lượng, giải phóng ra CO2, nước và một số hợp chất hữu cơ khác nhau.

Các chất khí mà trong đó chủ yếu là khí CO2 và nước sẽ bị tán phát vào không khí. Một lượng nhỏ hợp chất hữu cơ như các axit hữu cơ, rượu, aldehid, este…và một số chất khoáng hữu cơ sẽ tích lại trong đệm lót và dần cũng bị phân hủy. Thời gian để phân giải nước tiểu mất khoảng 3 giờ, còn phân trong vòng 2 – 3 ngày.

2. Chăn nuôi khép kín, không chất thải

Đây là hướng đi mới trong ngành chăn nuôi hiện nay, vừa xử lý triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi vừa tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi. Những điều cần biết về xây dựng Mô hình trang trại khép kín thực sự là mô hình chăn nuôi mới rất tuyệt vời cho những trang trại chăn nuôi.

Ưu điểm của mô hình này là giúp người chăn nuôi vừa tiết kiệm được rất nhiều chi phí sản xuất, bảo vệ môi trường  chăn nuôi, đồng thời cũng giảm thiểu bệnh tật và có thể phát triển chăn nuôi bền vững hơn.

Đây là một mô hình chăn nuôi trồng trọt tổng hợp nhiều mắt xích và đầu ra của quá trình này là đầu vào của quá trình kia, mọi rác thải trong sản xuất nông nghiệp trước kia như phân, gia cầm, rơm rạ nước tiểu gia súc,… đến lá cây cũng trở thành nguồn tài nguyên quý giá.

Trong trang trại chăn nuôi khép kín, phân của gia súc được đem đi làm thức ăn nuôi giung quế’ (hoặc ruồi lính đen). Phân giun quế được bón cho cây trồng còn thịt giung quế’ được dùng làm thức ăn bổ sung cho vật nuôi để tạo nạt.

Vai trò xử lý chất thải của giun quế:

Trong ruột giun có chứa hàng triệu vi khuẩn hiếu khí có vai trò phân giải các sinh khối hữu cơ, hóa chất và cũng là tác nhân kích thích sinh học. Một quần thể giun 15 nghìn con nuôi tạo hàng tỷ vi khuẩn trong một thời gian ngắn. Chính quần thể vi khuẩn này giữ vai trò phân giải các chất hữu cơ của chất thải. Đồng thời trong ruột giun còn chứa nhiều các enzyme như protease, lipase, amylase, cellulose, chitinase cũng là những tác nhân phân giải các vật liệu giàu protein và chất xơ trong chất thải hữu cơ.

Trong quá trình phân hủy chất thải, giun thải dịch chất từ ruột và dịch chất này có tác dụng tiêu diệt các vi khuẩn gây
bệnh trong khối phân ủ. Chất thải khi đã được giun quế xử lý sẽ giảm sự độc hại đối với môi trường. Có thể kết hợp ấu trùng ruồi đen với giun đỏ hay giun quế đều cho hiệu quả xử lý chất thải chăn nuôi, do chất thải của ấu giung ruồi đen được giun sử dụng làm thức ăn. Giun đỏ nuôi trên chất thải của ấu trùng ruồi đen lớn nhanh gấp 2 – 3 lần nuôi trên chất thải là phân ủ. Ấu trùng ruồi đen ăn chất thải thối rữa mà đôi khi giun đỏ không ăn, trong khi giun đỏ lại có thể ăn những chất xơ mà ấu trùng ruồi đen không ăn. Hai loại côn trùng này phối hợp với nhau có tác dụng phân hủy rất tốt phân và các chất thải hữu cơ khác nhau.

Phân chúng thải ra rất giàu dinh dưỡng và những vi sinh vật cộng sinh có ích trong hệ thống tiêu hóa theo phân ra khỏi cơ thể’ giun nhưng vẫn còn hoạt động trong một thời gian dài. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho phân giun có hàm lượng dinh dưỡng cao và có hiệu quả cải tạo đất tốt hơn dạng phân hữu cơ phân hủy bình thường trong tự nhiên.

Chăn nuôi khép kín, không phát thải là mô hình không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cao mà còn làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, hiện nay sự tiếp cận của người chăn nuôi đối với mô hình này còn rất hạn chế. Do đó để nhân rộng mô hình, mở ra hướng đi bền vững cho ngành chăn nuôi ở nước ta thì vai trò của chính quyền địa phương là vô cùng quan trọng trong việc truyền thông, tập huấn để người chăn nuôi có điều kiện tiếp cận mô hình chăn nuôi không chất thải và từ đó triển khai thực hiện.

Nguồn: moitruong.com.vn