Thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải có thực sự hiệu quả?

Kể từ ngày 01/01/2017, hàng loạt chính sách mới sẽ có hiệu lực, trong đó có Nghị định 154/2016/NĐ-CP quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Sau hàng loạt sự cố ô nhiễm môi trường nước trong năm qua, việc thu phí bảo vệ môi trường được đưa ra với kỳ vọng sẽ giúp cơ quan về môi trường quản lý và kiểm soát các nguồn thải chặt chẽ hơn, có nhiều thông tin hơn để ứng phó tốt với những sự cố về môi trường nước xảy ra, trên nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền. Tuy nhiên, việc thu phí này có thực sự hiệu quả, cùng bàn luận vấn đề này với PGS. TS Trương Mạnh Tiến, Chủ tịch Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam.

PV: Việc thu phí buộc người gây ô nhiễm phải trả tiền, tuy nhiên, việc thu phí nước thải này đã từng gặp khó khăn trong quá khứ. Thưa, PGS. TS Trương Mạnh Tiến, ở góc độ là người làm việc trong lĩnh vực môi trường nhiều năm, ông đánh giá như thế nào về tính cấp thiết của việc ban hành Nghị định 154/2016/NĐ-CP thay thế NĐ 25/2013/NĐ-CP?

PGS. TS Trương MạnhTiến: Việc ra đời của Nghị định 154/2016/NĐ-CP vào tháng 11 vừa rồi là hết sức cần thiết vì đây là sự kết hợp của Nghị định 67/2003/NĐ-CP và NĐ 25/2013/ NĐ-CP. Như vậy, NĐ này đủ chi tiết để thực hiện được ngay mà không phải chờ đến thông tư. Quy định thu phí nước nước thải được đưa ra với 3 mục tiêu chính: nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường đối với các tổ chức, cá nhân xả nước thải ra môi trường; Tạo động lực để khuyến khích các tổ chức, cá nhân nâng cao hiệu quả xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường; Tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước để tái đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường.

PV: Trong NĐ có quy định rõ nước thải từ các cơ sở chăn nuôi giết mổ gia súc gia cầm tập trung, nuôi trồng thủy sản và khai thác khoáng sản là đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường. Nhưng khó khăn ở chỗ là không có căn cứ để xác định quy mô tập trung của cơ sở chăn nuôi giết mổ gia súc, gia cầm, quy mô nào nuôi trồng thủy sản thì phải nộp phí bảo vệ môi trường. Liệu đây có phải là vấn đề bất cập không, thưa ông?

PGS. TS Trương Mạnh Tiến: Thực ra, ở Việt Nam, trong chăn nuôi cũng như nuôi trồng thủy sản thường có quy mô manh mún, tư nhân là nhiều. Chính vì vậy, ta phải quy định rõ đâu là phần có thể thu phí được, với tính chất là nước thải công nghiệp thì phải là những khu nuôi trồng tập trung, thường là các hộ nuôi trồng thủy sản liên kết với nhau và các cơ sở nuôi trồng thủy sản của cơ quan nhà nước. Đối với chăn nuôi, đó là các trang trại chăn nuôi lớn chứ không phải các hộ gia đình chăn nuôi lẻ. Khái niệm đó đã rất rõ và việc thu phí cũng đã được bắt đầu từ năm 2003.

PV: Một số chuyên gia cho rằng, nước thải từ khai thác khoáng sản trên khai trường chủ yếu là nước moong và nước mưa chảy tràn trên bề mặt, hoặc các loại hình khai thác lòng sông hoặc than bùn thì không sử dụng nước trong quá trình khai thác. Tuy nhiên, việc tính toán lưu lượng nước thải, giá trị ô nhiễm có trong nước moong, nước mưa chảy tràn thì không đảm bảo tính khoa học và tính thực thi khi triển khai thực tế, hầu như việc thu phí bảo vệ môi trường không thực hiện được, ông có bình luận gì về vấn đề này?

PGS. TSTrương Mạnh Tiến: Đối với ngành khai khoáng, phân nước moong hay nước mưa chảy tràn ta thấy rất rõ, người ta không sử dụng nguồn nước khi khai thác. Bởi vậy, việc lưu trữ hay làm thế nào để nó không bị nước mưa hay tác động nào đó làm tràn ra thì hết sức quan trọng. Quy định này để cho các công ty, tổng công ty khi đã khai thác phải chú trọng việc che chắn để đảm bảo không có nước tràn ra. Khi đã để tràn nước ra thì chắc chắn sẽ có ô nhiễm và sẽ bị xử phạt. Điều đó cũng sẽ góp phần nâng cao trách nhiệm của các tổ chức trong việc bảo vệ môi trường.

PV: Nhiều người dân còn nghi ngờ việc xác định hàm lượng các chất gây ô nhiễm, khi hàng loạt thách thức được nêu ra như thiếu nhân lực, thiết bị chưa hiện đại, thời điểm lấy mẫu. Ông đánh giá như thế nào về thực tế này?

PGS. TS Trương Mạnh Tiến: Khi Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập năm 2003, chúng tôi đã học tập kinh nghiệm từ Nhật Bản, xây dựng Nghị định 67/2003/NĐ-CP về thu phí nước thải, nhờ đó quy định các chất gây ô nhiễm rất rõ ràng và việc thu phí đã được thực hiện, thu được phần lớn vào Qũy bảo vệ môi trường Việt Nam. Khi cơ sở thải ra môi trường các chất thải độc hại, trong đó có nhấn mạnh các chất gây ô nhiễm như thủy ngân, chì, asen. Quy định như vậy là đánh giá ô nhiễm theo hàm lượng. Nếu không làm như vậy, thì người ta có thể pha loãng. Nghị định 154/2016/NĐ-CP tổng hợp đầy đủ và có thể đánh giá được chính xác các chất gây ô nhiễm.

Không thu phí đất đá bốc xúc thải ra trong quá trình khai thác than đến hết năm 2017.

Ảnh: baoquangninh

PV: Trong NĐ mới, có quy định rõ cơ quan thu phí công khai số phí mà người dân, tổ chức phải nộp khi gây ô nhiễm. Vậy theo ông việc công khai như vậy đã giải quyết được việc chây ì, nộp chậm, nộp thiếu hay không?

PGS. TS Trương Mạnh Tiến: Việc này ở nhiều nước đã làm. Khi một cơ sở gây ô nhiễm mà bị công khai như vậy, không chỉ “đánh” vào tài chính mà quan trọng hơn cả là “đánh” vào thương hiệu, uy tín tên tuổi của họ trên thị trường. Tôi cho rằng đây là một trong những biện pháp rất tốt. Hi vọng việc làm này bước đầu sẽ cho được hiệu quả cao trong việc giảm xả thải gây ô nhiễm môi trường.

PV: Trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi này. Mong rằng việc thu phí nước thải sẽ cải thiện đáng kể tình trạng ô nhiễm môi trường tại Việt Nam hiện nay. ■

PHÚC THANH (thực hiện)