Nâng cao chất lượng hoạt động bảo vệ môi trường ở các đơn vị cơ sở quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay

Bảo vệ môi trường (BVMT) là một trong bốn trụ cột phát triển bền vững ở nước ta hiện nay. Đây là vấn đề đã và đang được sự quan tâm của cả hệ thống chính trị, của mọi cấp, mọi ngành. Trong Quân đội, BVMT được xác định là một trong những vấn đề chiến lược, đã và đang được triển khai, thực hiện ngày một sâu, rộng. BVMT gắn với nâng cao khả năng chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và nhiệm vụ xây dựng Quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Mọi hoạt động đóng quân, canh phòng, huấn luyện, diễn tập, sản xuất, sửa chữa, thử nghiệm vũ khí, khí tài, vật tư, trang thiết bị… đều có quan hệ tác động qua lại đối với môi trường. Phạm vi hoạt động của Quân đội rộng lớn, bao gồm đất liền, trên không, trên biển v.v.. cho nên BVMT trong các hoạt động của Quân đội mang tính đặc thù, phong phú, phức tạp.

“Hoạt động BVMT Quân đội là các hoạt động nhằm giữa gìn, phòng ngừa, hạn chế, các tác động xấu đến môi trường, tài nguyên, thiên nhiên; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; khai thác, sử dụng hợp lý, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và các thành phần môi trường phục vụ cho các nhiệm vụ của Quân đội” (1). Hoạt động này được diễn ra trực tiếp ở các đơn vị cơ sở trong quân đội. Ở đó có các hoạt động xây dựng ý thức, trách nhiệm, rèn luyện khả năng BVMT cho cán bộ, chiến sĩ – Họ sẽ là những thành viên tích cực, hiệu quả cho công tác BVMT tại những địa phương khi xuất ngũ.

Trong Quân đội, BVMT được xác định là một trong những vấn đề chiến lược, đã và đang được triển khai, gắn với nâng cao khả năng chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và nhiệm vụ xây dựng Quân đội chính quỵ, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. (Ảnh minh họa)

Trong thời gian qua, công tác BVMT của Quân đội nói chung, ở các đơn vị cơ sở nói riêng đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Bộ quốc phòng, cơ quan chức năng đã ban hành và thường xuyên củng cố, hoàn thiện các văn bản pháp quy, tổ chức triển khai học tập Luật BVMT, quán triệt Chỉ thị của Bộ trưởng về nhiệm vụ BVMT trong Quân đội cho các đối tượng. Đã có nhiều hình thức giáo dục, tuyên truyền, tìm hiểu về môi trường; thường xuyên có công tác điều tra khảo sát, đánh giá hiện trạng, tác động của môi trường đối với các khu vực quân sự và các vùng có liên quan; kiểm soát, giám sát ô nhiễm và quản lý chất thải quân sự; triển khai các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường; đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ và ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động quân sự; triển khai thực hiện đề án khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Nhà nước để giải quyết nhiều vấn đề về môi trường; xây dựng và tổ chức lực lượng nòng cốt trong phòng chống thiên tai và khắc phục sự cố môi trường… Cơ bản cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị cơ sở đã có ý thức tốt về một môi trường xanh, sạch, đẹp và đã có nhiều hành động thiết thực như trồng cây, làm vườn hoa cây cảnh, vệ sinh nơi ăn, ở sạch sẽ và quy củ, góp phần cho môi trường ngày càng tốt hơn.Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động BVMT trong Quân đội cũng còn những hạn chế. Hoạt động BVMT vẫn chưa thực sự được coi trọng đúng mức; quy hoạch tổng thể, trình độ nhận thức của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ về BVMT còn những hạn chế, chưa ngang tầm; còn những bức xúc về môi trường ở một số đơn vị ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững; việc thực hiện Luật BVMT và các quy định BVMT khác của Nhà nước vẫn còn có những điểm chưa hiệu quả; cơ sở hạ tầng kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật và khoa học công nghệ ở một số cơ sở còn lạc hậu; xử lý chất thải ở cơ sở sản xuất, sửa chữa quốc phòng, nước sinh hoạt của bộ đội có nơi chưa thật tốt; nguồn nhân lực, hệ thống quản lý BVMT chưa thật đồng bộ. Hệ thống tài liệu, giáo trình, văn bản cho công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức về BVMT còn hạn chế; đặc biệt là các tài liệu học tập ở hệ thống các nhà trường quân đội về môi trường, BVMT chưa theo kịp với yêu cầu của tình hình.

Để góp phần quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả Luật BVMT 2014; Điều lệ công tác BVMT và ứng phó với biết đổi khí hậu của Quân đội nhân dân Việt Nam, năm 2015; Chiến lược bảo vệ môi trường của Bộ quốc phòng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Văn kiện Đại hội XII của Đảng liên quan đến công tác BVMT và khắc phục thực trạng BVMT ở các đơn vị cơ sở quân đội hiện nay, cần tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, củng cố, hoàn chỉnh hệ thống các văn bản pháp quy và kiện toàn các tổ chức BVMT ở các đơn vị cơ sở.

Thường xuyên nghiên cứu ban hành, cập nhật, rà soát, bổ sung, điều chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT theo thẩm quyền. Kịp thời thể chế hoá, cụ thể hoá chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Quân đội về hoạt động BVMT phù hợp với điều kiện hoạt động của các đơn vị cơ sở. Hoàn thiện hệ thống văn bản, pháp quy về BVMT, nhằm tạo ra hành lang pháp lý cần thiết bảo đảm cho các đơn vị cơ sở đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác BVMT. Nghiên cứu đặc điểm môi trường tự nhiên và kinh tế – xã hội khu vực đóng quân, dự báo những vấn đề ảnh hưởng đến sức khỏe và hoạt động của bộ đội, qua đó có biện pháp BVMT sát thực. Cơ quan chức năng, cần biên soạn, cung cấp tài liệu cho công tác học tập, tuyên truyền, giáo dục nhận thức về vấn đề môi trường cho các đơn vị cơ sở.

Trong điều kiện không có cơ quan chuyên trách về công tác môi trường ở các đơn vị cơ sở, cần phải lồng ghép các hoạt động của cán bộ, chiến sĩ, nhân viên theo chức trách với hoạt động BVMT một cách linh hoạt, sáng tạo.

Hai là, tăng cường giáo dục, bồi dưỡng xây dựng ý thức trách nhiệm BVMT cho cán bộ, chiến sĩ, nhân viên ở đơn vị cơ sở.

Các phương tiện thông tin đại chúng, truyền thông của Quân đội chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị, nhà trường và các cơ quan quản lý về môi trường để đẩy mạnh thông tin tuyên truyền, cung cấp đầy đủ, kịp thời những kiến thức cần thiết về môi trường, những quan điểm chính sách của Đảng và Nhà nước về BVMT trong tình hình mới. Đổi mới nội dung, hình thức giáo dục ý thức BVMT sát với tình hình thực tiễn; chú trọng tuyên truyền trực quan, hội thi, hội thao, hoạt động văn hóa văn nghệ và vui chơi, giải trí. Kịp thời biểu dương, khen thưởng, nêu gương người tốt, việc tốt về công tác BVMT; kiên quyết đấu tranh phê phán những việc làm sai trái, những hành vi gây hại môi trường sinh thái; sơ kết, tổng kết đánh giá kịp thời, tạo động lực thi đua thiết thực trong xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp.

Trong chương trình, nội dung đào tạo của những nhà trường Quân đội, với tư cách là những đơn vị cơ sở, cần chú ý lồng ghép với nội dung BVMT và tích cực đầu tư xây dựng cảnh quan môi trường mẫu mực, trực quan sinh động, phục vụ cho quá trình học tập của học viên.

Ba là, gắn hoạt động BVMT với chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị cơ sở quân đội, gắn hoạt động BVMT với chức năng huấn luyện chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu ở các đơn vị cơ sở.

Trong các hoạt động ở thao trường, bãi tập, trường học, bệnh viện, công xưởng, cầu cảng… phải luôn chú trọng tính chất lượng dụng, vừa phục vụ cho mục tiêu huấn luyện, chuyên môn và cho cả phát triển bền vững của môi trường theo đúng tinh thần Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã xác định: “Đến năm 2020, có bước chuyển biến cơ bản trong khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững, kiềm chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học nhằm đảm bảo chất lượng môi trường sống, duy trì cân bằng sinh thái, hướng tới nền kinh tế xanh, thân thiện môi trường; về cơ bản, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, tránh thiên tai, giảm mức phát thải khí nhà kính”.

Phát huy bản chất, truyền thống trong chiến đấu, Quân đội luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ BVMT. Quân đội, trong đó có các đơn vị cơ sở, đơn vị chuyên biệt cần thực hiện tốt các giải pháp BVMT trong các hoạt động đặc thù: Bảo vệ sinh lực, trang thiết bị, khí tài chiến đấu trước những tác động vũ khí hoá học của địch; khắc phục tồn lưu bom, mìn, vật nổ, hóa chất độc, phóng xạ; diễn tập BVMT biển và ứng cứu sự cố môi trường; bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, quân y, y dược phòng chống dịch bệnh, tẩy uế, khử trùng khu vực đóng quân và khu vực tác chiến; các đơn vị bảo đảm kỹ thuật thuộc các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng kỹ thuật, cần kết hợp hài hòa giữa công tác bảo đảm kỹ thuật với yêu cầu BVMT ở đơn vị.

Các đơn vị cơ sở có tính đặc thù, cần nâng cao năng lực tham gia hoạt động quan trắc và giám sát môi trường. Có nhiều biện pháp khoa học mang tính truyền thống và ứng dụng công nghệ cao trong giảm thiểu và xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái của môi trường, cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên; từng bước đầu tư công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt và nước thải từ các hoạt động quân sự.

Gắn hoạt động BVMT với chức năng lao động sản xuất ở đơn vị cơ sở.

Thực hiện quy hoạch môi trường lâu dài khu vực đóng quân, đảm bảo đủ và đạt chất lượng nguồn nước cho các hoạt động của đơn vị (đặc biệt là các đơn vị vùng sâu vùng xa, biên giới và hải đảo); đảm bảo chất lượng không khí đạt tiêu chuẩn, không có nguồn phóng xạ vượt tiêu chuẩn cho phép, không có ổ dịch và tồn đọng bom mìn, chất độc. Các doanh trại có môi trường không còn phù hợp, cần điều chỉnh, đầu tư cải tạo toàn diện, đặc biệt là cấp, thoát nước, xử lý chất thải ô nhiễm môi trường, phòng trừ dịch bệnh.

Tích cực xây dựng doanh trại Quân đội “xanh, sạch, đẹp”, thân thiện với môi trường; tích cực phòng chống dịch bệnh Đẩy mạnh phong trào trồng cây, không ngừng tăng tỉ lệ màu xanh ở các đơn vị; tăng cường các biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý tài nguyên đất, nước, cảnh quan thiên nhiên, các nguồn lợi lâm – thuỷ sản trong phạm vi quản lý của các đơn vị cơ sở theo quy định; xoá bỏ tình trạng nơi ăn, ở, tăng gia sản xuất không hợp vệ sinh.

Các đơn vị cơ sở phải không ngừng nâng cao năng lực tăng gia, sản xuất, đảm bảo cả về số lượng và chất lượng; tích cực ứng dụng và đổi mới công nghệ, tăng dần tỷ lệ phát triển kinh tế tri thức và kinh tế xanh trong cơ cấu tổng thể của hoạt động sản xuất, phấn đấu các đơn vị cơ sở trong Quân đội phải là gương sáng trong xã hội về thực hiện an toàn vệ sinh thực phẩm.

Gắn hoạt động BVMT với chức năng đội quân công tác ở các đơn vị cơ sở.

Khuyến khích các đơn vị Quân đội, đặc biệt là các đơn vị đóng quân trên các địa bàn chiến lược, khu kinh tế – quốc phòng, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo phối hợp với chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội và nhân dân khu vực đóng quân tiến hành cải tạo môi trường ô nhiễm, tham gia có hiệu quả chương trình quốc gia về trồng và bảo vệ rừng ở nơi đóng quân, bảo tồn thiên nhiên, tạo môi trường phù hợp với hoạt động quốc phòng và góp phần BVMT quốc gia.

Các đơn vị cơ sở, tích cực hưởng ứng phong trào xây dựng nông thôn mới trên địa bàn đóng quân; có thể tham mưu, hoặc có lực lượng tham gia phong trào với những hoạt động cụ thể, thiết thực giàu ý nghĩa về hoạt động BVMT.

BVMT luôn đặt trong quan hệ với khắc phục sự cố môi trường như tràn dầu trên biển, rò rỉ hoá chất độc – xạ. Có phương án và tổ chức diễn tập khắc phục sự cố môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu. Thực hiện tốt vai trò là lực lượng nòng cốt cứu hộ, cứu nạn, điều tra, khảo sát khắc phục triệt để hậu quả chất độc hoá học, tồn lưu bom mìn, đạn dược sau chiến tranh.

Có thể nói, các đơn vị cơ sở là lực lượng cơ bản trong Quân đội nhân dân Việt Nam, nơi triển khai trực tiếp các hoạt động của Quân đội, của lãnh đạo, chỉ huy các cấp. Hoạt động BVMT diễn ra một cách cơ bản, thường xuyên, phổ biến, trực tiếp và có tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Các mục tiêu, nội dung, phương pháp hoạt động của đơn vị luôn gắn với phát triển bền vững, thống nhất với BVMT. Cùng với chương trình, nội dung, kế hoạch riêng, công tác BVMT được hiện thực, lồng ghép trong mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và mọi hoạt động của đơn vị. Phát huy truyền thống tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ, các đơn vị cơ sở luôn xung kích hoàn thành tốt các nhiệm vụ cùng với hoạt động BVMT, xứng đáng là lực lượng nòng cốt, tiên phong trong công tác môi trường hiện nay.

PGS, TS BÙI MẠNH HÙNG
Học viện Chính trị – Bộ Quốc phòng


Recommended For You