“Triết lý hành động” về quan hệ con người với môi trường tự nhiên của Hồ Chí Minh

                                                                                                           PGS, TS BÙI MẠNH HÙNG
                                                                              Chủ nhiệm Khoa Triết học – Học viện Chính trị Bộ Quốc Phòng

Mối quan hệ hữu cơ giữa con người với môi trường tự nhiên của Hồ Chí Minh không trình bày thành hệ thống lý luận trong các tác phẩm riêng mà được thể hiện phong phú, ẩn ý sâu sắc trong tư tưởng, cuộc sống, tấm gương, nhân cách và hành động cách mạng, giải phóng con người, giải phóng dân tộc của Người. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ con người với môi trường tự nhiên, ngoài việc tìm hiểu, khái quát từ các tác phẩm, văn kiện, văn bản… cần giải mã “Triết lý hành động”; cần hiểu được cái “thần”, cái “hồn” trong các hình thức thực tiễn và cuộc sống; cần tiếp cận được những giá trị tư tưởng, triết lý nhân văn cao cả của Người. “Triết lý hành động” về quan hệ con người với môi trường tự nhiên của Hồ Chí Minh được thể hiện qua các sự kiện căn bản sau:

Thứ nhất, hành trình 30 năm tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh.

Từ những năm đầu hành trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã thấy rõ tội ác và sự tàn bạo của bọn thực dân, đế quốc với môi trường sống. Người đã thấy rõ tội ác tàn bạo của bọn thực dân, đế quốc trong khai thác tài nguyên, là tác nhân trực tiếp gây ra lụt lội, ô nhiễm, biến đổi môi trường sống của các nước thuộc địa.

Người đã tới cái nôi của “tự do” “bình đẳng”, “bác ái” để tận mắt thấy cái thực chất của “tự do”, để tìm con đường độc lập, tự do cho nước nhà. Toàn bộ quá trình 30 năm tìm đường cứu nước, đó là một cuộc trường chinh vĩ đại trong sự thống nhất con người với điều kiện hoàn cảnh và là biểu hiện của “Triết lý hành động” của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên.

Thứ hai, những địa danh ở Việt Nam trong tiến trình chỉ đạo cách mạng.

Sau nhiều năm bôn ba các châu lục, năm 1941, Người trở về Tổ quốc. Những nơi Hồ Chí Minh chọn cho sinh hoạt và nhiệm vụ chỉ đạo cách mạng, đều là những địa danh không chỉ có giá trị về chính trị, quân sự mà còn có những giá trị thẩm mỹ – nhân văn, giá trị cho hòa hợp con người với thiên nhiên. Suối Lênin, núi Các Mác, hang Cốc Pó đã đi vào lịch sử như những địa danh nổi tiếng của cách mạng, với những thắng cảnh hùng vĩ. Từ Pắc bó Người về Tân Trào, Tuyên Quang với lán Nà Lừa lịch sử, trước mặt là sông, sau lưng là rừng núi đại ngàn. Trên những địa danh lịch sử, cùng quá trình chỉ đạo kháng chiến và kiến quốc, không chỉ trong tư duy Hồ Chí Minh mà hiện thực của người luôn là điểm nổi bật. Người luôn sát với nhân dân, bộ đội trong lao động sản xuất, trong chiến đấu. Địa danh Đá Chông, với phong cảnh sơn thủy hữu tình, Người sử dụng trong những năm chống Mỹ, có sự tương giao gần gũi giữa con người với thiên nhiên, thuận lợi cho sự nghiệp cách mạng. Tại Thủ đô Hà Nội, Hồ Chí Minh đã chọn Nhà sàn, nơi có ao, vườn… để làm việc và thuận lợi cho cuộc sống hòa đồng với thiên nhiên.

Những địa danh trên là điều kiện thuận lợi cho Người gắn với núi, rừng, sông, suối v.v.. cùng nhiều hoạt động thực tiễn cách mạng phong phú. Điều này, giúp cho sự thống nhất hữu cơ giữa lao động, xã hội và tự nhiên cho con người phát triển.

Việc xác định những địa danh của Hồ Chí Minh có giá trị về khoa học, thẩm mỹ, cuộc sống, sự nghiệp, nhân văn; là lô-gic nội tại, nhất quán, thể hiện sâu sắc về thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng, ẩn chứa triết lý sâu xa, thiêng liêng về mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên.

Thứ ba, phong trào trồng cây gây rừng do Hồ Chí Minh phát động từ năm 1959.

Với tầm nhìn xa, trông rộng, Hồ Chí Minh đã thấy được những nguy cơ, hậu quả tới môi trường của việc chặt phá rừng. Theo Người, đó là hành vi “đem vàng đổ xuống biển”[1] và cần có công tác bảo vệ rừng, vì giá trị của rừng vàng biển bạc, “Rừng là vàng, nếu mình biết bảo vệ, xây dựng thì rừng rất quý”[2]. Người chỉ rõ, nếu rừng kiệt thì không còn gỗ và mất nguồn nước thì ruộng nương mất mầu, gây ra lụt lội và hạn hán; nếu để tình trạng đồng bào phá một ít, nông trường phá một ít, công trường phá một ít, thậm chí đoàn thăm dò địa chất cũng phá một ít, thì rất tai hại, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khí hậu, sản xuất, đời sống.

Hiện thời, trồng cây gây rừng hàng năm vẫn được duy trì trong phạm vi cả nước và tư tưởng của Người luôn là vấn đề thời sự, “trồng cây là công việc quan trọng chuẩn bị cho công cuộc xây dựng nông thôn mới”[3]. Trồng cây gây rừng trở thành phong trào và đã đi vào thái độ, tình cảm và truyền thống, nhận thức của Người Việt Nam ở mọi thành phần, lứa tuổi. Những hành động gây hại môi trường như khai thác rừng bừa bãi, triệt hại những cây cối ảnh hưởng sinh thái đã bị phê phán và lên án của xã hội. Kết quả của phong trào trồng cây đã đem lại màu xanh, lá phổi, đem lại các giá trị thiết thực lâu dài trên nhiều các con phố, công viên, con đường, làng quê và những giá trị to lớn của những diện tích rừng được đảm bảo và ngày càng phát triển. Phong trào trồng cây gây rừng, trên cả mặt lý luận và thực tiễn của Hồ Chí Minh đều phản ánh triết lý nhân đạo, nhân văn, “Triết lý hành động” trong quan hệ con người với tự nhiên.

Thứ 4, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác thủy lợi và cải tạo đất đảm bảo cho môi trường bền vững.

Người đã viết: “Việt Nam ta có 2 tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là đất nước; có đất và có nước, thì mới thành Tổ quốc. Có đất lại có nước thì dân giàu nước mạnh. Nước cũng có thể làm lợi, cũng có thể làm hại, nhiều nước quá thì úng, lụt, ít nước quá thì hạn hán. Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất và nước điều hoà với nhau để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội”6. Theo Hồ Chí Minh, sự tồn vong và phát triển của con người, xã hội gắn liền với tự nhiên; trong đó, đất và nước có tầm quan trọng quyết định đối với sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường sinh thái. Cần quan tâm bảo vệ đất, nước và giải quyết vấn đề này chỉ có thể được thực hiện bằng công tác thủy lợi và cải tạo đất. Người thường xuyên nhắc nhở, động viên lãnh đạo các cấp và nhân dân cả nước kiểm tra việc đắp đê, xây dựng kè, cống, đào sông, khơi ngòi, trồng cây trên núi, cải tạo đất, lưu ý nhân dân không nên lạm dụng phân hoá học làm ảnh hưởng đến đất canh tác.

Đất và nước, cũng như rừng đều là nguồn tài nguyên thiên nhiên, là bộ phận không thể thiếu của môi trường sinh thái và có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống con người. Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác thủy lợi và cải tạo đất đảm bảo cho môi trường tự nhiên được giữ vững, nói rộng hơn là sự đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của Đất nước, của Tổ quốc.

Cuộc đời, sự nghiệp Hồ Chí Minh có triết lý “hành động” về mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên. Sinh thời, Người luôn gắn bó, gần gũi với thiên nhiên; khi mất, Người muốn trở về với tự nhiên. Người là một nhà “hiền triết” sâu sắc, tình cảm đặc biệt đề cao nhân sinh quan con người hoà hợp với môi trường tự nhiên.

Ngày nay, cùng với những thành công của con người trong chính phục và thích ứng với môi trường tự nhiên, biến đổi khí hậu, còn có những tác động tiêu cực tới môi trường tự nhiên của con người. Thực tiễn hiện nay, đang còn những vấn nạn về hiện tượng xâm hại môi trường gây bức xúc trong nhân dân: nạn phá rừng, khai thác tài nguyên bừa bãi dẫn tới sạt núi, mất rừng, lũ quét, sói lở, sạt lở đất…, đe dọa cuộc sống của nhân dân; việc xả nước và rác thải sinh hoạt; phế thải và khói bụi công nghiệp không qua xử lý ra môi trường dẫn tới ô nhiễm nặng nề ở nhiều khu vực, “Ô nhiễm môi trường tiếp tục gia tăng, có nơi nghiêm trọng”[4]; nguy hại của nạn thực phẩm bẩn đã ảnh hưởng nghiệm trong tới đời sống cộng đồng.

Hậu quả của những vấn đề trên là tác nhân to lớn xâm hại tới môi trường tự nhiên, dẫn tới sự xuất hiện, gia tăng những bệnh tật mới. Cùng với quy luật của sự phát triển theo tiến trình lịch sử tự nhiên, loài người đang phải đối mặt với những nguy cơ, những biểu hiện của sự suy thoái về sức khỏe, lao động, tình cảm, tâm lý, giai đình, cộng đồng. Hệ lụy vấn đề này tới con người – bông hoa tuyệt tác nhất của tự nhiên, kỳ tích của tạo hóa sẽ bị xâm hại và mất dần những dấu hiệu bản chất mang tính tự nhiên của nó. Điều này đã được Ph.Ăngghen đã cảnh báo, con người không được phép thống trị tự nhiên giống “như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên”[5]. Vì vậy, đặt ra có tính cấp thiết việc nâng cao nhận thức về môi trường ở Việt Nam hiện nay, “Bảo vệ môi trường tự nhiên, vừa là nội dung vừa là mục tiêu phát triển bền vững”[6].

Trước tình hình đó, cần quán triệt sâu, rộng những quan điểm của Đảng, nhà nước, quan điểm khoa học về nghĩa vụ, trách nhiệm công dân với bảo vệ môi trường tự nhiên. Theo chức năng và sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, các cơ quan trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân, đặc biệt là luật bảo vệ môi trường. Quán triệt và thực hiện tốt tinh thần của Đảng ta: “Đảm bảo hài hòa giữa môi trường tự nhiên với môi trường sống”[7].

“Triết lý hành động” đã định hướng rằng, cùng với công tác giáo dục nâng cao nhận thức, vấn đề đặc biệt quan trong, quyết định là phải tổ chức quản lý, tiến hành các hoạt động thiết thực trong bảo vệ môi trường. Đầu tư hiệu quả công tác quy hoạch và tổ chức hiện thực hóa không gian xanh không chỉ ở đô thị mà phải chú trọng ở nông thôn và là nội dung cơ bản trong xây dựng nông thôn mới. Thường xuyên nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ môi trường; giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành, nâng cao khả năng thích ứng với sự biến đổi khí hậu.

Triết lý hành động về quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên là tư tưởng chỉ đạo hành động thiết thực bảo vệ, phát triển môi trường sống bền vững cho con người; đảm bảo cho sự phát triển hài hoà, bền vững giữa con người, môi trường tự nhiên và kinh tế- xã hội ở nước ta hiện nay. ■

[1]  Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 14, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội 2011, tr.180.
[2]  Sđd, tr.165
[3]  Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 1989, tr.686.
[4]  Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXII, Tr.140
[5]  SĐ D tr.655.     '      '
[6]  SĐD, tr.141
[7]  SĐD, tr.142